Tranh chấp đất khởi kiện Tòa án hay Ủy ban là vấn đề cần được làm rõ ngay khi phát sinh bất đồng liên quan đến quyền sử dụng đất. Xác định không đúng cơ quan giải quyết có thể khiến hồ sơ bị trả lại, phải thực hiện lại thủ tục và làm kéo dài thời gian bảo vệ quyền lợi.
Khi xảy ra tranh chấp liên quan đến đất đai, bước đầu tiên không phải là lựa chọn ngay Tòa án hay UBND mà cần xác định chính xác bản chất pháp lý của vụ việc. Điều này có ý nghĩa quan trọng bởi pháp luật có sự phân biệt giữa tranh chấp đất đai và tranh chấp dân sự có đối tượng liên quan đến quyền sử dụng đất.
Theo khoản 47 Điều 3 Luật Đất đai 2024, tranh chấp đất đai được hiểu là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.
Những tranh chấp nhằm xác định ai là người có quyền sử dụng đối với diện tích đất đang tranh chấp thuộc nhóm tranh chấp đất đai và được xem xét theo quy định tại Điều 235, Điều 236 Luật Đất đai 2024.
Trong khi đó, tranh chấp phát sinh từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất hoặc tranh chấp tài sản chung của vợ chồng dù có liên quan đến đất nhưng có thể thuộc nhóm tranh chấp dân sự. Các trường hợp này không mặc nhiên áp dụng thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai tại Điều 235, Điều 236 Luật Đất đai 2024 mà được giải quyết theo trình tự tố tụng dân sự tương ứng.
Khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai 2024 quy định Tòa án có thẩm quyền giải quyết khi các bên hoặc một trong các bên có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ về quyền sử dụng đất thuộc Điều 137 Luật Đất đai 2024.
Nếu các bên không có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ thuộc Điều 137 thì khoản 2 Điều 236 cho phép lựa chọn giữa việc yêu cầu UBND có thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện tại Tòa án theo pháp luật tố tụng dân sự.
Do đó, việc kiểm tra hồ sơ pháp lý của thửa đất cần được thực hiện trước khi xác định cơ quan có thẩm quyền.
Tòa án giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất
Hòa giải tại UBND cấp xã trước khi giải quyết tranh chấp
Đối với tranh chấp đất đai thuộc phạm vi Điều 235, Điều 236 Luật Đất đai 2024, hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất là bước thủ tục quan trọng.
Theo khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024, trước khi Tòa án hoặc UBND thụ lý giải quyết tranh chấp đất đai, các bên phải tiến hành hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất.
Như vậy, đây không phải thủ tục mà người có tranh chấp có thể tùy ý bỏ qua. Việc hòa giải nhằm tạo điều kiện để các bên tự thỏa thuận, đồng thời giúp chính quyền địa phương xác minh nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng cũng như hiện trạng của thửa đất.
Tuy nhiên, nghĩa vụ hòa giải này chỉ áp dụng đối với “tranh chấp đất đai” theo khoản 47 Điều 3 Luật Đất đai 2024. Những tranh chấp dân sự có liên quan đến quyền sử dụng đất như tranh chấp thừa kế, hợp đồng chuyển nhượng hoặc tài sản chung vợ chồng cần được phân biệt với tranh chấp đất đai theo nghĩa của Luật Đất đai.
Những trường hợp phải hòa giải và trường hợp ngoại lệ
Hòa giải tại UBND cấp xã được áp dụng đối với tranh chấp đất đai không phụ thuộc vào việc các bên đã được cấp Giấy chứng nhận hay chưa.
Ngoại lệ được quy định tại khoản 5 Điều 235 Luật Đất đai 2024 liên quan đến trường hợp địa bàn không tổ chức đơn vị hành chính cấp xã. Trong tình huống này, các bên có thể trực tiếp yêu cầu Tòa án hoặc UBND có thẩm quyền giải quyết theo Điều 236 mà không phải thực hiện hòa giải tại cấp xã.
Do đây là trường hợp đặc biệt, người có tranh chấp cần kiểm tra chính xác tình trạng tổ chức đơn vị hành chính tại nơi có đất trước khi áp dụng ngoại lệ. Việc xác định sai có thể khiến hồ sơ không đáp ứng điều kiện để được thụ lý.
Trình tự thực hiện hòa giải tại UBND cấp xã
Theo điểm c khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024, thời gian thực hiện hòa giải tại UBND cấp xã không quá 30 ngày kể từ ngày nhận đơn. Trình tự cụ thể được quy định tại Điều 105 Nghị định 102/2024/NĐ-CP.
Quá trình hòa giải có thể được khái quát như sau:
Người có yêu cầu gửi đơn hòa giải đến UBND cấp xã nơi có thửa đất tranh chấp. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, UBND cấp xã phải thông báo việc thụ lý hoặc từ chối bằng văn bản và nêu rõ lý do theo Điều 105 Nghị định 102/2024/NĐ-CP.
Cơ quan có thẩm quyền tiến hành kiểm tra, xác minh nguyên nhân tranh chấp và thu thập tài liệu về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng và hiện trạng đất.
Chủ tịch UBND cấp xã thành lập Hội đồng hòa giải theo điểm a, điểm b khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024.
Phiên hòa giải được tổ chức khi các bên đều có mặt. Nếu một bên vắng mặt đến lần thứ hai thì xác định hòa giải không thành theo khoản 1 Điều 105 Nghị định 102/2024/NĐ-CP.
Kết quả hòa giải được lập thành biên bản hòa giải thành hoặc không thành.
Trường hợp hòa giải thành dẫn đến thay đổi ranh giới, diện tích hoặc người sử dụng đất, các bên phải gửi văn bản công nhận kết quả hòa giải thành đến cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày làm việc để đăng ký, cấp Giấy chứng nhận theo khoản 4 Điều 235 Luật Đất đai 2024.
Nếu hòa giải không thành, biên bản là cơ sở để các bên tiếp tục thực hiện quyền lựa chọn phương thức giải quyết theo Điều 236 Luật Đất đai 2024 trong trường hợp được pháp luật cho phép.
Xác định quyền quyết định tranh chấp đất đai
Những trường hợp tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của Tòa án
Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai trong trường hợp một bên hoặc các bên có Giấy chứng nhận, giấy tờ theo Điều 137 Luật Đất đai 2024. Ngoài ra, khi không có các loại giấy tờ này, các bên vẫn có thể lựa chọn khởi kiện tại Tòa án theo khoản 2 Điều 236.
Tranh chấp có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ theo Điều 137
Khoản 1 Điều 236 Luật Đất đai 2024 quy định trường hợp các bên hoặc một trong các bên có Giấy chứng nhận, giấy chứng nhận tương đương hoặc giấy tờ về quyền sử dụng đất thuộc Điều 137 thì tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Trong trường hợp này, các bên không được lựa chọn chuyển sang yêu cầu UBND giải quyết theo cơ chế tại Điều 236.
Điều 137 Luật Đất đai 2024 quy định nhiều nhóm giấy tờ có thể được sử dụng làm căn cứ xác định quyền sử dụng đất. Trong đó có giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền cấp trước ngày 15/10/1993, giấy tờ của nông, lâm trường quốc doanh giao đất trước ngày 01/7/2004, giấy tờ về thừa kế, tặng cho, giấy tờ thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở và một số loại giấy tờ khác theo quy định.
Không phải mọi tài liệu có nội dung liên quan đến đất đều được xem là giấy tờ theo Điều 137. Vì vậy, người sử dụng đất cần kiểm tra kỹ nguồn gốc, thời điểm, chủ thể cấp và nội dung giấy tờ trước khi xác định cơ quan giải quyết.
Nếu tài liệu đang có không thuộc danh mục được pháp luật công nhận theo Điều 137, tranh chấp có thể được xem xét theo khoản 2 Điều 236 để xác định quyền lựa chọn cơ quan giải quyết.
Tranh chấp không có giấy tờ nhưng muốn khởi kiện tại Tòa án
Trong trường hợp không có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ thuộc Điều 137, các bên vẫn được quyền lựa chọn khởi kiện tại Tòa án theo điểm b khoản 2 Điều 236 Luật Đất đai 2024.
Đây là quyền lựa chọn của đương sự chứ không phải nghĩa vụ bắt buộc.
Khi giải quyết tại Tòa án, vụ việc được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự. Các bên có quyền cung cấp chứng cứ, yêu cầu thu thập chứng cứ, thực hiện các hoạt động tố tụng cần thiết và sử dụng quyền kháng cáo theo quy định.
Đối với tranh chấp có nhiều tình tiết về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng, tài liệu địa chính hoặc có nhiều người liên quan, việc chuẩn bị và chứng minh căn cứ bảo vệ quyền lợi cần được đặc biệt chú trọng.
Xác định Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền
Từ ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân cấp huyện không còn tồn tại và Tòa án nhân dân khu vực thực hiện chức năng xét xử sơ thẩm theo Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Theo Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, được sửa đổi, bổ sung 2025, Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các tranh chấp dân sự thuộc phạm vi luật định, trong đó có tranh chấp đất đai.
Đối với thẩm quyền theo lãnh thổ, điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định tranh chấp về bất động sản thuộc thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản.
Vì vậy, khi khởi kiện tranh chấp đất đai, người khởi kiện cần xác định chính xác Tòa án nhân dân khu vực quản lý địa bàn nơi có đất theo địa giới hành chính mới.
Việc sử dụng thông tin về Tòa án cấp huyện trước đây để nộp đơn có thể dẫn đến việc hồ sơ không được tiếp nhận hoặc bị trả lại do xác định sai thẩm quyền.
Trường hợp có thể yêu cầu UBND giải quyết tranh chấp
Khi không có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ thuộc Điều 137 Luật Đất đai 2024, các bên có quyền lựa chọn yêu cầu UBND có thẩm quyền giải quyết thay vì khởi kiện tại Tòa án.
Theo khoản 3 Điều 236 Luật Đất đai 2024, thẩm quyền giải quyết được phân định căn cứ vào chủ thể tham gia tranh chấp.
Đối với những vụ việc có tình tiết tương đối rõ ràng, hồ sơ địa chính có thể hỗ trợ xác định quá trình quản lý, sử dụng đất và các bên muốn thực hiện thủ tục hành chính, phương thức này có thể được cân nhắc trong phạm vi pháp luật cho phép.
Tuy nhiên, quyết định của UBND vẫn có thể trở thành đối tượng bị khiếu nại hoặc khởi kiện hành chính nếu một bên không đồng ý. Vì vậy, việc lựa chọn UBND không đồng nghĩa với việc tranh chấp chắc chắn chấm dứt ngay sau quyết định đầu tiên.
Phân định thẩm quyền giải quyết tại UBND
Theo điểm a, điểm b khoản 3 Điều 236 Luật Đất đai 2024, thẩm quyền giải quyết được phân chia theo nhóm chủ thể tranh chấp.
Tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư được xác định theo nhóm thẩm quyền tương ứng; trường hợp có một bên là tổ chức, tổ chức tôn giáo, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thì thuộc nhóm thẩm quyền khác.
Đáng chú ý, từ ngày 01/7/2025, điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định 151/2025/NĐ-CP về phân định thẩm quyền chính quyền địa phương hai cấp trong lĩnh vực đất đai đã chuyển giao thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện đối với nhóm hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư cho Chủ tịch UBND cấp xã.
Do đó, khi xác định nơi nộp hồ sơ, cần đối chiếu cả Điều 236 Luật Đất đai 2024 và Nghị định 151/2025/NĐ-CP để tránh gửi hồ sơ đến cơ quan không còn thẩm quyền.
Thời hạn khiếu nại hoặc khởi kiện đối với quyết định của UBND
Sau khi UBND ban hành quyết định giải quyết tranh chấp, các bên cần đặc biệt quan tâm đến thời hạn thực hiện quyền phản đối.
Theo điểm a, điểm b khoản 3 Điều 236 Luật Đất đai 2024, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định, người không đồng ý có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án hoặc khiếu nại lên cấp có thẩm quyền.
Nếu quá thời hạn mà không thực hiện quyền theo quy định, quyết định của UBND sẽ có hiệu lực thi hành.
Đối với quyết định của Chủ tịch UBND cấp xã trong nhóm tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người không đồng ý có thể khởi kiện hành chính hoặc khiếu nại lên Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
Đối với quyết định của Chủ tịch UBND cấp tỉnh thuộc nhóm tranh chấp có một bên là tổ chức, việc khiếu nại được thực hiện lên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo quy định. Căn cứ tổ chức bộ máy quản lý đất đai sau khi hợp nhất được quy định tại Nghị định 35/2025/NĐ-CP.
Trường hợp quyết định đã có hiệu lực nhưng người phải thi hành không tự nguyện chấp hành, Chủ tịch UBND nơi có đất có thể ban hành quyết định cưỡng chế và tổ chức thực hiện theo khoản 4 Điều 236 Luật Đất đai 2024.
Đối chiếu Tòa án và UBND khi giải quyết tranh chấp đất đai
Trước khi lựa chọn phương thức giải quyết, các bên cần xem xét đồng thời điều kiện áp dụng, cơ quan có thẩm quyền, trình tự thực hiện và quyền phản đối sau khi có kết quả.
Mức tạm ứng án phí, án phí dân sự sơ thẩm cần được xác định theo văn bản về án phí, lệ phí Tòa án đang có hiệu lực tại thời điểm thực hiện thủ tục. Do mức và cách tính có thể được điều chỉnh theo từng thời kỳ, cần kiểm tra cụ thể đối với từng hồ sơ.
Tranh chấp đất đai phát sinh trong hoạt động thương mại
Khoản 5 Điều 236 Luật Đất đai 2024 quy định một trường hợp đặc biệt đối với tranh chấp đất đai phát sinh từ hoạt động thương mại.
Đối với nhóm tranh chấp này, các bên không được lựa chọn yêu cầu UBND giải quyết theo cơ chế thông thường mà tranh chấp được giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài thương mại Việt Nam.
Nhóm vụ việc này có thể phát sinh giữa các thương nhân hoặc tổ chức có mục đích sinh lợi, chẳng hạn tranh chấp liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng, hợp tác kinh doanh bất động sản hoặc thuê mặt bằng phục vụ hoạt động kinh doanh.
Theo khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005, hoạt động thương mại được xác định trên cơ sở mục đích sinh lợi và các hoạt động thuộc phạm vi điều chỉnh của luật.
Nếu hợp đồng có thỏa thuận trọng tài hợp lệ, tranh chấp có thể thuộc thẩm quyền của Trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại 2010. Nếu không có thỏa thuận trọng tài phù hợp, tranh chấp được giải quyết tại Tòa án theo pháp luật tố tụng dân sự.
Vì vậy, doanh nghiệp cần rà soát điều khoản giải quyết tranh chấp trong hợp đồng trước khi nộp đơn. Trường hợp đã có thỏa thuận trọng tài hợp lệ mà vẫn khởi kiện tại Tòa án, hồ sơ có thể bị trả lại do tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Tòa án.
Rủi ro khi lựa chọn không đúng cơ quan giải quyết
Việc xác định sai cơ quan có thẩm quyền không chỉ làm kéo dài thời gian mà còn có thể khiến người có tranh chấp phải thực hiện lại nhiều bước thủ tục.
Nộp đơn khi chưa hòa giải hoặc sai thẩm quyền
Nếu chưa tiến hành hòa giải tại UBND cấp xã trong trường hợp pháp luật bắt buộc hòa giải mà đã khởi kiện, Tòa án có thể trả lại đơn do chưa đáp ứng điều kiện khởi kiện theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Tương tự, nếu một bên có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ theo Điều 137 nhưng lại nộp đơn yêu cầu UBND giải quyết thì hồ sơ có thể bị từ chối do không thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính theo khoản 1 Điều 236.
Trước khi nộp hồ sơ, người có tranh chấp nên kiểm tra tình trạng giấy tờ, xác định bản chất vụ việc và chuẩn bị tài liệu chứng minh đã hòa giải hoặc thuộc trường hợp không phải hòa giải.
Bỏ lỡ thời hạn 30 ngày
Sau khi nhận quyết định giải quyết tranh chấp của UBND, nếu không đồng ý, các bên phải chú ý thời hạn 30 ngày để khởi kiện hành chính hoặc khiếu nại.
Khoản 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015 quy định tranh chấp về quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, quy định về thời hiệu khởi kiện dân sự không làm mất đi thời hạn 30 ngày để phản đối quyết định hành chính của UBND.
Hai loại thời hạn này có bản chất pháp lý khác nhau. Vì vậy, việc tranh chấp quyền sử dụng đất không áp dụng thời hiệu không có nghĩa người có tranh chấp được quyền trì hoãn việc khiếu nại hoặc khởi kiện quyết định của UBND.
Dịch vụ luật sư hỗ trợ giải quyết tranh chấp đất đai
Chuyên tư vấn Luật hỗ trợ khách hàng trong các vụ việc tranh chấp đất đai, tập trung vào việc rà soát hồ sơ, xác định cơ quan có thẩm quyền và hỗ trợ thực hiện các thủ tục cần thiết, bao gồm:
Kiểm tra Giấy chứng nhận, giấy tờ về quyền sử dụng đất và các tài liệu có liên quan để xác định phương thức giải quyết phù hợp.
Hỗ trợ chuẩn bị tài liệu chứng minh nguồn gốc và quá trình quản lý, sử dụng đất.
Đại diện khách hàng thực hiện thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã.
Soạn thảo đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp theo đúng quy định.
Xác định Tòa án nhân dân khu vực hoặc UBND có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ.
Tư vấn phương án xử lý trong trường hợp hòa giải không đạt kết quả.
Phân tích những vấn đề cần lưu ý khi lựa chọn khởi kiện tại Tòa án hoặc yêu cầu UBND giải quyết.
Đại diện khách hàng tham gia tố tụng tại Tòa án hoặc làm việc với cơ quan có thẩm quyền trong quá trình giải quyết.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc có thể gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973.
Những câu hỏi thường gặp về cơ quan giải quyết tranh chấp đất đai
Đất đã được cấp sổ đỏ thì tranh chấp giải quyết ở đâu?
Nếu một bên hoặc các bên có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy tờ thuộc Điều 137 Luật Đất đai 2024, tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án theo khoản 1 Điều 236.
Người khởi kiện cần xác định Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền tại nơi có bất động sản theo điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Đất chưa có sổ đỏ thì có thể chọn Tòa án hay UBND?
Nếu không có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ thuộc Điều 137, các bên được lựa chọn giữa việc khởi kiện tại Tòa án và yêu cầu UBND có thẩm quyền giải quyết theo khoản 2 Điều 236 Luật Đất đai 2024.
Việc lựa chọn cần dựa trên tính chất tranh chấp, hồ sơ chứng cứ và phương thức giải quyết mà các bên muốn thực hiện trong phạm vi pháp luật cho phép.
Có bắt buộc hòa giải tại UBND cấp xã trước khi khởi kiện không?
Theo khoản 2 Điều 235 Luật Đất đai 2024, hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất là điều kiện bắt buộc trước khi Tòa án hoặc UBND thụ lý tranh chấp đất đai.
Trường hợp ngoại lệ được quy định tại khoản 5 Điều 235 liên quan đến địa bàn không tổ chức đơn vị hành chính cấp xã.
Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất có phải hòa giải tại UBND cấp xã?
Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất là tranh chấp dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất, không phải tranh chấp đất đai theo khoản 47 Điều 3 Luật Đất đai 2024.
Do đó, tranh chấp này không bắt buộc phải hòa giải tại UBND cấp xã theo Điều 235 và có thể được yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.
Không đồng ý với quyết định của UBND thì phải làm gì?
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận quyết định, người không đồng ý có thể khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án hoặc khiếu nại lên cấp có thẩm quyền theo điểm a, điểm b khoản 3 Điều 236 Luật Đất đai 2024.
Nếu quá thời hạn mà không thực hiện quyền khởi kiện hoặc khiếu nại, quyết định của UBND sẽ có hiệu lực thi hành và có thể được tổ chức cưỡng chế theo khoản 4 Điều 236.
Tranh chấp quyền sử dụng đất có thời hiệu khởi kiện hay không?
Theo khoản 3 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015, tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai không áp dụng thời hiệu khởi kiện.
Tuy nhiên, cần tách biệt quy định này với thời hạn 30 ngày để khởi kiện hành chính hoặc khiếu nại quyết định của UBND theo Điều 236 Luật Đất đai 2024.
Tranh chấp đất đai giữa hai doanh nghiệp được giải quyết như thế nào?
Theo khoản 5 Điều 236 Luật Đất đai 2024, tranh chấp đất đai phát sinh từ hoạt động thương mại được giải quyết tại Tòa án hoặc Trọng tài thương mại Việt Nam.
Nếu hợp đồng có thỏa thuận trọng tài hợp lệ thì tranh chấp có thể được giải quyết tại Trọng tài thương mại theo Luật Trọng tài thương mại 2010. Nếu không có thỏa thuận trọng tài phù hợp, tranh chấp được giải quyết tại Tòa án theo pháp luật tố tụng dân sự.
Việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp đất đai cần căn cứ vào bản chất vụ việc, tình trạng giấy tờ về quyền sử dụng đất và các thủ tục đã thực hiện. Khi có Giấy chứng nhận hoặc giấy tờ thuộc Điều 137 Luật Đất đai 2024, tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án; trường hợp không có các loại giấy tờ này, các bên có thể lựa chọn cơ quan giải quyết trong phạm vi luật định. Đồng thời, cần hoàn thành thủ tục hòa giải bắt buộc và theo dõi chặt chẽ thời hạn 30 ngày đối với việc khởi kiện hoặc khiếu nại quyết định của UBND. Chuyên tư vấn Luật cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Tranh chấp đất khởi kiện Tòa án hay Ủy ban: Cách xác định thẩm quyền



Nhận xét
Đăng nhận xét