Mua tài sản do trộm cắp mà có có thể làm phát sinh trách nhiệm pháp lý nếu người mua nhận thức rõ tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. Đặc biệt, những giao dịch mua xe máy, điện thoại, máy tính, trang sức hoặc đồ điện tử với mức giá thấp bất thường luôn tiềm ẩn nguy cơ pháp lý nếu nguồn gốc tài sản không được kiểm tra đầy đủ.
Mua tài sản do trộm cắp mà có và căn cứ phát sinh trách nhiệm pháp lý
Không phải mọi trường hợp mua phải tài sản có nguồn gốc từ trộm cắp đều mặc nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xác định một người có phạm tội hay không phải dựa trên đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, trong đó ý thức của người mua tại thời điểm thực hiện giao dịch có vai trò đặc biệt quan trọng.
Theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Do đó, đối với trường hợp mua tài sản trộm cắp, cơ quan có thẩm quyền cần làm rõ ít nhất hai vấn đề: người mua có biết rõ nguồn gốc phạm tội của tài sản hay không và giữa người mua với người thực hiện tội phạm có thỏa thuận, hứa hẹn trước về việc tiêu thụ tài sản hay không.
Yếu tố “biết rõ” nguồn gốc phạm tội của tài sản
“Biết rõ” là một trong những dấu hiệu quan trọng để xác định trách nhiệm hình sự theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015. Người mua chỉ có thể bị xem xét về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có khi có căn cứ xác định họ nhận thức được tài sản đang mua, nhận giữ hoặc tiêu thụ có nguồn gốc từ hành vi phạm tội.
Điều này có nghĩa rằng trường hợp một người mua tài sản hoàn toàn ngay tình, không biết và cũng không có căn cứ để xác định họ nhận thức được nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản thì không thể chỉ dựa vào việc tài sản sau đó được xác định là tài sản trộm cắp để mặc nhiên kết luận người mua phạm tội.
Trong thực tiễn, việc đánh giá nhận thức của người mua thường phải dựa trên tổng thể các tình tiết của giao dịch. Một số dấu hiệu có thể được xem xét gồm mức giá thấp bất thường, tình trạng giấy tờ của tài sản, thông tin của người bán, phương thức giao dịch, thời điểm giao dịch, cách thức giao nhận tài sản hoặc những thông tin mà người mua đã biết trước khi thực hiện giao dịch.
Yếu tố “không hứa hẹn trước” giữa người mua và người phạm tội
Bên cạnh yếu tố biết rõ, Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 còn đặt ra điều kiện người chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản không có sự hứa hẹn trước với người thực hiện tội phạm.
“Hứa hẹn trước” có thể được hiểu là việc người mua đã có sự bàn bạc, thống nhất hoặc cam kết từ trước với người thực hiện hành vi phạm tội về việc tiếp nhận, mua hoặc tiêu thụ tài sản mà người này dự kiến chiếm đoạt. Đây là điểm quan trọng để phân biệt tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có với trường hợp người mua có thể bị xem xét với vai trò đồng phạm trong chính tội phạm nguồn.
Trách nhiệm khi tiếp tục bán lại tài sản đã biết là tài sản phạm tội
Một vấn đề cần đặc biệt lưu ý là trách nhiệm pháp lý không nhất thiết chấm dứt ở thời điểm mua tài sản.
Nếu sau khi mua, người mua biết rõ tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội nhưng vẫn tiếp tục chuyển nhượng, bán hoặc tìm cách đưa tài sản đó cho người khác thì hành vi này có thể được xem xét dưới góc độ “tiêu thụ tài sản” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.
Vì vậy, khi xuất hiện thông tin đáng tin cậy cho thấy tài sản mình đang quản lý có thể là tài sản do trộm cắp mà có, người mua không nên tiếp tục bán, chuyển nhượng, cầm cố hoặc tìm cách che giấu nguồn gốc của tài sản.
Tiêu thụ tài sản phạm tội: Biết rõ nguồn gốc nhưng vẫn mua bán có thể bị xử lý.
Tài sản có giá trị nhỏ có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Một quan niệm khá phổ biến là tài sản phải có giá trị lớn thì người mua mới có nguy cơ bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa phản ánh đầy đủ quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.
Khung hình phạt cơ bản không quy định giá trị tài sản tối thiểu
Tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, khung hình phạt cơ bản của tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có không quy định một mức giá trị tài sản tối thiểu làm điều kiện bắt buộc để cấu thành tội phạm.
Như vậy, trong trường hợp người mua biết rõ tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội và không có sự hứa hẹn trước với người thực hiện tội phạm, giá trị tài sản không phải là yếu tố duy nhất quyết định việc có cấu thành tội phạm hay không.
Giá trị tài sản có ý nghĩa khi xác định khung tăng nặng
Giá trị tài sản, giá trị vật phạm pháp và số tiền thu lợi bất chính chủ yếu có ý nghĩa trong việc xác định các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.
Do đó, việc tài sản có giá trị thấp không đồng nghĩa người mua đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự nếu những dấu hiệu khác của tội phạm đã được chứng minh.
Mức xử lý đối với hành vi mua tài sản do trộm cắp mà có
Tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm và kết quả xác định các yếu tố cấu thành, người mua tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội có thể phải đối mặt với trách nhiệm hình sự hoặc xử phạt vi phạm hành chính.
Xử phạt hành chính khi chưa đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm
Trong trường hợp hành vi mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự, người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính.
Theo điểm d khoản 2 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ, hành vi này có thể bị phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng.
Ngoài tiền phạt, người vi phạm còn có thể bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được từ hành vi vi phạm theo quy định.
Các khung hình phạt hình sự theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015
Nếu hành vi đã đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, người phạm tội có thể bị xử lý theo các khung hình phạt được quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.
Khoản 1 Điều 323: Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khoản 2 Điều 323: Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm nếu có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, tài sản hoặc vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc tái phạm nguy hiểm.
Khoản 3 Điều 323: Phạt tù từ 07 năm đến 10 năm nếu tài sản hoặc vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.
Khoản 4 Điều 323: Phạt tù từ 10 năm đến 15 năm nếu tài sản hoặc vật phạm pháp trị giá từ 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc số tiền thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng trở lên.
Hình phạt bổ sung và xử lý tài sản liên quan
Theo khoản 5 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Đối với tài sản là đối tượng của hành vi phạm tội, việc xử lý phải tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về vật chứng. Nếu tài sản được xác định thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người bị mất tài sản, tài sản có thể được trả lại sau khi hoàn tất các thủ tục xác minh, giám định và xử lý cần thiết.
Những trường hợp thường gặp khi mua phải tài sản trộm cắp
Mua xe máy, điện thoại, đồ điện tử với giá thấp bất thường
Xe máy, điện thoại, laptop, máy tính bảng, đồng hồ, máy ảnh và các thiết bị điện tử là những loại tài sản thường xuất hiện trong các giao dịch mua bán lại.
Nếu người bán đưa ra mức giá thấp bất thường nhưng không cung cấp được giấy tờ chứng minh nguồn gốc, người mua cần cân nhắc kỹ trước khi giao dịch.
Tiệm cầm đồ, cửa hàng thu mua đồ cũ nhận tài sản trộm cắp
Các cơ sở kinh doanh cầm đồ, mua bán tài sản đã qua sử dụng có đặc thù tiếp nhận tài sản thường xuyên với số lượng lớn.
Nếu hoạt động chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có được xác định có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp, đây có thể là tình tiết định khung theo khoản 2 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.
Người bán chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ trường hợp Bộ luật có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hình sự đối với những tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng thuộc phạm vi điều luật quy định.
Việc người bán không bị truy cứu trách nhiệm hình sự do chưa đủ tuổi không đồng nghĩa người mua đương nhiên được miễn trách nhiệm nếu người mua biết rõ tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội.
Cần làm gì khi phát hiện tài sản mình mua có thể là tài sản trộm cắp?
Dừng ngay việc sử dụng và chuyển nhượng tài sản
Khi có căn cứ đáng tin cậy cho rằng tài sản đang quản lý có nguồn gốc từ trộm cắp, người mua nên dừng việc bán, chuyển nhượng, cầm cố hoặc che giấu tài sản.
Chủ động trình báo và giao nộp tài sản
Người mua có thể chủ động trình báo, giao nộp tài sản cho cơ quan công an có thẩm quyền để được xác minh nguồn gốc và hướng dẫn xử lý.
Lưu giữ chứng cứ chứng minh giao dịch
Các tài liệu như tin nhắn trao đổi, hóa đơn, giấy mua bán, chứng từ chuyển khoản, thông tin tài khoản, hình ảnh, video hoặc dữ liệu liên quan nên được bảo quản đầy đủ.
Thành khẩn khai báo và khắc phục hậu quả
Theo điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, người phạm tội tự thú được xem xét là tình tiết giảm nhẹ. Điểm s khoản 1 Điều 51 quy định người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ. Điểm b khoản 1 Điều 51 cũng quy định việc tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ theo quy định.
Trách nhiệm hình sự: Người mua có thể bị truy cứu nếu biết rõ tài sản do phạm tội mà có.
Rủi ro pháp lý khi giao dịch tài sản không rõ nguồn gốc
Nguy cơ bị đánh giá về nhận thức qua giá cả và giấy tờ
Mức giá thấp bất thường không tự động chứng minh người mua biết tài sản do phạm tội mà có. Tuy nhiên, đây có thể là một tình tiết được xem xét cùng những chứng cứ khác để đánh giá nhận thức của người mua.
Nguy cơ phát sinh trách nhiệm khi bán lại tài sản
Nếu người mua đã biết rõ tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp nhưng vẫn bán lại cho người khác, hành vi này có thể tiếp tục được xem xét dưới góc độ tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có.
Rủi ro đối với cửa hàng thu mua đồ cũ
Cửa hàng cầm đồ, cơ sở thu mua đồ cũ cần xây dựng quy trình kiểm tra nguồn gốc tài sản, lưu giữ thông tin người bán và chứng từ giao dịch để hạn chế rủi ro pháp lý.
Dịch vụ luật sư tư vấn, bào chữa về hành vi mua tài sản do trộm cắp mà có
Long Phan PMT cung cấp dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự cho cá nhân, tổ chức gặp vướng mắc liên quan đến việc mua, nhận giữ hoặc tiêu thụ tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội.
Nghiên cứu hồ sơ và đánh giá dấu hiệu phạm tội
Luật sư nghiên cứu hồ sơ, phân tích diễn biến giao dịch, đối chiếu các tình tiết thực tế với dấu hiệu “biết rõ” và “không hứa hẹn trước” tại Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015.
Xác định khung hình phạt có thể áp dụng
Việc xác định giá trị tài sản, số tiền thu lợi bất chính và các tình tiết định khung được xem xét để đánh giá mức độ rủi ro pháp lý.
Hỗ trợ trình báo, giao nộp tài sản
Long Phan PMT có thể tư vấn phương án trình báo, giao nộp tài sản, chuẩn bị văn bản và hệ thống hóa tài liệu liên quan đến giao dịch.
Tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Luật sư có thể tham gia cùng khách hàng trong quá trình làm việc, lấy lời khai với cơ quan có thẩm quyền và hỗ trợ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp theo quy định.
Tư vấn phòng ngừa rủi ro cho cơ sở kinh doanh
Đối với tiệm cầm đồ, cửa hàng mua bán tài sản cũ, luật sư có thể tư vấn xây dựng quy trình kiểm tra, tiếp nhận và lưu trữ thông tin nguồn gốc tài sản nhằm hạn chế rủi ro pháp lý.
Quý khách có nhu cầu được đánh giá sơ bộ vụ việc có thể gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973 để được hỗ trợ.
Câu hỏi thường gặp về mua tài sản do trộm cắp mà có
Mua tài sản nhưng không biết đó là đồ trộm cắp thì có bị xử lý hình sự không?
Theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, người thực hiện hành vi phải “biết rõ” tài sản do người khác phạm tội mà có. Nếu người mua thực sự không biết và không có căn cứ chứng minh họ nhận thức được nguồn gốc phạm tội của tài sản thì chưa đủ căn cứ chỉ dựa vào việc tài sản là tang vật trộm cắp để kết luận người mua phạm tội.
Mua tài sản trộm cắp giá trị nhỏ có thể bị phạt tù không?
Có thể nếu hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 không quy định giá trị tài sản tối thiểu trong khung hình phạt cơ bản.
Cửa hàng cầm đồ mua nhầm tài sản trộm cắp bị xử lý thế nào?
Tùy thuộc chứng cứ về nhận thức của người kinh doanh và tính chất hoạt động, vụ việc có thể được xem xét theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 hoặc quy định xử phạt vi phạm hành chính.
Đã mua phải tài sản trộm cắp thì cần làm gì?
Người mua nên dừng sử dụng, bán, chuyển nhượng hoặc cất giấu tài sản; chủ động trình báo, giao nộp tài sản và cung cấp thông tin trung thực về giao dịch cho cơ quan có thẩm quyền.
Mức phạt tù cao nhất đối với tội này là bao nhiêu?
Theo khoản 4 Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, mức phạt tù cao nhất là từ 10 năm đến 15 năm khi tài sản hoặc vật phạm pháp trị giá từ 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc số tiền thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng trở lên.
Người bán chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì người mua có bị xử lý không?
Có thể bị xem xét tùy thuộc vào việc người mua có biết rõ tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội hay không và các dấu hiệu pháp lý khác của vụ việc. Điều 12 và Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 cần được đối chiếu cùng các tình tiết cụ thể.
Mua tài sản do trộm cắp mà có tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý, trong đó trọng tâm là xác định người mua có biết rõ nguồn gốc phạm tội của tài sản và có hứa hẹn trước với người thực hiện tội phạm hay không. Giá trị tài sản không phải điều kiện tối thiểu để xác định khung cơ bản của Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, nhưng có thể ảnh hưởng đến việc xác định khung hình phạt tăng nặng. Khi phát hiện tài sản có dấu hiệu bất hợp pháp, người mua nên ngừng giao dịch, trình báo, giao nộp tài sản và bảo quản chứng cứ liên quan. Long Phan PMT cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Mua tài sản do trộm cắp mà có: Hành vi này có phạm tội không?
Xem thêm:
- Lấy tiền công ty sử dụng cho việc riêng bị xử lý thế nào
- Tiêu thụ tài sản trộm cắp bị xử lý như thế nào?



Nhận xét
Đăng nhận xét