Chuyển đến nội dung chính

Phân biệt khiếu nại và kháng cáo trong tố tụng dân sự

Khiếu nại và kháng cáo trong vụ án dân sự đều là những quyền tố tụng giúp cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi tham gia quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Tuy nhiên, hai thủ tục này khác nhau từ đối tượng bị phản đối, người có quyền thực hiện, thời hạn cho đến cơ quan có thẩm quyền xem xét. Nhầm lẫn giữa khiếu nại và kháng cáo có thể dẫn đến nộp sai đơn, quá thời hạn hoặc không đạt được mục đích yêu cầu Tòa án xem xét lại vấn đề đang tranh chấp. Vì vậy, người tham gia tố tụng cần nhận diện đúng từng cơ chế trước khi thực hiện quyền của mình.

khieu-nai-va-khang-cao-la-hai-thu-tuc-to-tung-khac-nhau-ve-doi-tuong-thoi-han-tham-quyen-giai-quyet-va-hau-qua-phap-ly-

Khiếu nại và kháng cáo là hai thủ tục tố tụng khác nhau về đối tượng, thời hạn, thẩm quyền giải quyết và hậu quả pháp lý.

Khiếu nại trong tố tụng dân sự được hiểu như thế nào?

Khiếu nại là phương thức để cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân phản đối quyết định, hành vi tố tụng mà họ cho rằng được ban hành hoặc thực hiện trái pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Theo khoản 1 Điều 499 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi trong tố tụng dân sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Như vậy, trọng tâm của thủ tục khiếu nại không phải là yêu cầu xét xử lại toàn bộ nội dung vụ án. Cơ chế này chủ yếu được sử dụng để phản đối những quyết định hoặc cách thức thực hiện hoạt động tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc.

Trong thực tế, vấn đề bị khiếu nại có thể liên quan đến quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời; việc tiếp nhận, xử lý tài liệu và chứng cứ; hành vi hạn chế quyền tiếp cận hồ sơ; hoặc các quyết định, hành vi tố tụng khác nếu thuộc phạm vi pháp luật cho phép khiếu nại.

Những ai có quyền thực hiện khiếu nại?

Khoản 1 Điều 499 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 xác định cơ quan, tổ chức và cá nhân đều có thể thực hiện quyền khiếu nại nếu có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi tố tụng trái pháp luật đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Đối tượng liên quan đến việc khiếu nại có thể là quyết định hoặc hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên hoặc những người có chức danh tố tụng khác.

Điều 500 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 còn quy định người khiếu nại có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp thực hiện việc khiếu nại; được rút khiếu nại; được nhận thông báo về việc thụ lý và quyết định giải quyết khiếu nại; được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; đồng thời có thể được bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật nếu có căn cứ.

Việc xác định đúng người bị khiếu nại và quyết định, hành vi bị phản đối là bước cần thực hiện trước khi lập đơn. Nếu lựa chọn sai thủ tục, hồ sơ có thể bị trả lại hoặc phải chuyển đến cơ quan khác, làm mất thời gian xử lý.

Trường hợp nào không giải quyết theo thủ tục khiếu nại chung?

Không phải tất cả quyết định phát sinh trong quá trình tố tụng đều được giải quyết theo Chương XLI Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Khoản 2 Điều 499 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định đối với bản án, quyết định sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm của Tòa án đã có kháng cáo, kháng nghị và các quyết định tố tụng khác mà Bộ luật đã quy định cơ chế khiếu nại, kiến nghị riêng thì phải thực hiện theo chương tương ứng.

Điều này có nghĩa là nếu pháp luật đã thiết lập một trình tự phản đối riêng đối với một loại quyết định thì người có quyền phải sử dụng đúng trình tự đó.

Chẳng hạn, quyết định trả lại đơn khởi kiện có cơ chế khiếu nại riêng tại Điều 194 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Người khởi kiện không thể bỏ qua quy định này để chuyển sang áp dụng thủ tục khiếu nại chung.

Vì vậy, trước khi gửi đơn, người khiếu nại cần xác định quyết định mình muốn phản đối thuộc thủ tục chung hay đã được pháp luật quy định một quy trình giải quyết riêng.

khieu-nai-chu-yeu-ap-dung-doi-voi-quyet-dinh-hanh-vi-to-tung

Khiếu nại chủ yếu áp dụng đối với quyết định, hành vi tố tụng 

Kháng cáo trong vụ án dân sự có bản chất gì?

Khác với khiếu nại, kháng cáo gắn trực tiếp với bản án hoặc quyết định sơ thẩm thuộc phạm vi pháp luật cho phép và nhằm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại vụ án.

Điều 270 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.

Do đó, mục đích chính của kháng cáo là yêu cầu xem xét lại nội dung giải quyết của cấp sơ thẩm trong phạm vi có kháng cáo, thay vì phản đối riêng một hành vi của người tiến hành tố tụng.

Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự hoặc quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm.

Như vậy, kháng cáo tập trung vào ba loại đối tượng chính:

  • Bản án sơ thẩm;

  • Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

  • Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Đây là căn cứ quan trọng để phân biệt với khiếu nại theo Điều 499 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Chủ thể được pháp luật trao quyền kháng cáo

Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định nhóm chủ thể có quyền kháng cáo gồm đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức và cá nhân khởi kiện.

Do quyền kháng cáo chỉ thuộc những chủ thể luật định nên trước khi lập đơn cần xác định chính xác tư cách tố tụng của người thực hiện.

Nếu người đứng tên đơn không thuộc nhóm chủ thể có quyền kháng cáo, yêu cầu có thể không được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Bên cạnh điều kiện về chủ thể, người kháng cáo còn phải xác định rõ phần nội dung của bản án hoặc quyết định sơ thẩm mà mình không đồng ý. Có thể kháng cáo toàn bộ hoặc chỉ một phần tùy thuộc quyền lợi bị ảnh hưởng và mục tiêu yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết.

Phạm vi kháng cáo phải được xác định như thế nào?

Kháng cáo không phải là cơ chế để đưa ra một tranh chấp hoàn toàn mới tại cấp phúc thẩm.

Căn cứ Điều 270 và Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, yêu cầu kháng cáo cần gắn với nội dung đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét và thể hiện trong bản án hoặc quyết định.

Người kháng cáo cần làm rõ mình không đồng ý với phần nào của bản án, căn cứ phản đối là gì và yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết theo hướng nào.

Chẳng hạn, đương sự có thể chỉ kháng cáo phần phân chia tài sản, nghĩa vụ thanh toán, quyền sử dụng đất hoặc một nội dung cụ thể khác mà không nhất thiết phản đối toàn bộ bản án.

Việc xác định rõ phạm vi ngay trong đơn giúp Tòa án nhận diện chính xác yêu cầu, đồng thời giúp người kháng cáo tập trung chứng cứ và luận cứ vào vấn đề thực sự cần được xem xét lại.

Thời hiệu thực hiện quyền khiếu nại

Theo Điều 502 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời hiệu khiếu nại là 15 ngày kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi tố tụng mà họ cho rằng có vi phạm pháp luật.

Người có quyền cần lưu ý thời điểm thực tế mình nhận được hoặc biết đến quyết định, hành vi để xác định chính xác ngày bắt đầu tính thời hiệu.

Nếu có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khiến người có quyền không thể thực hiện khiếu nại đúng thời hạn thì khoảng thời gian tồn tại sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không được tính vào thời hiệu khiếu nại theo Điều 502 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về hình thức, Điều 503 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định việc khiếu nại phải thực hiện bằng đơn.

Đơn cần thể hiện ngày, tháng, năm lập đơn; họ tên và địa chỉ người khiếu nại; nội dung khiếu nại; lý do; yêu cầu giải quyết; đồng thời phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người khiếu nại.

Ai có thẩm quyền giải quyết khiếu nại?

Việc xác định thẩm quyền phụ thuộc trực tiếp vào người có quyết định hoặc hành vi đang bị khiếu nại.

Theo Điều 504 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân được giải quyết bởi Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ việc dân sự.

Nếu người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần đầu của Chánh án thì có thể tiếp tục khiếu nại để Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét.

Đối với quyết định, hành vi của Kiểm sát viên và Kiểm tra viên, Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp có thẩm quyền giải quyết lần đầu. Khiếu nại lần hai thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.

Việc gửi đơn đúng cơ quan có thẩm quyền giúp hạn chế tình trạng hồ sơ bị chuyển qua nhiều cơ quan hoặc kéo dài thời gian xử lý.

Quy trình giải quyết đơn khiếu nại

Căn cứ Điều 505 và Điều 507 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người khiếu nại trước tiên cần gửi đơn đến người có thẩm quyền giải quyết lần đầu trong thời hiệu 15 ngày được quy định tại Điều 502.

Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu phải tiến hành giải quyết trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án hoặc Viện kiểm sát nhận được khiếu nại.

Đối với vụ việc có tính chất phức tạp, thời hạn có thể được kéo dài nhưng không quá 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo Điều 505 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Sau khi xem xét, người có thẩm quyền phải ban hành quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản và gửi cho người khiếu nại cũng như các cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan. Nếu quyết định do Chánh án Tòa án ban hành thì phải gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Trong trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết lần đầu, người khiếu nại được quyền tiếp tục khiếu nại lần hai.

Khoản 1 Điều 507 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định thời hạn khiếu nại lần hai là 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu.

Khi thực hiện, cần gửi kèm bản sao quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và các tài liệu liên quan.

Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực thi hành ngay sau khi ban hành theo Điều 507 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Thời hạn kháng cáo bản án sơ thẩm

Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nếu đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án vì lý do chính đáng thì thời hạn được tính từ ngày nhận được bản án hoặc từ thời điểm bản án được niêm yết.

Đây là thời hạn có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền yêu cầu xét xử phúc thẩm. Khi hết thời hạn mà không thực hiện kháng cáo, đương sự có thể phải chuyển sang thủ tục xem xét kháng cáo quá hạn nếu có lý do chính đáng.

Vì vậy, ngay sau khi phiên tòa sơ thẩm kết thúc hoặc khi nhận được bản án, đương sự cần kiểm tra nội dung và xác định sớm có cần thực hiện quyền kháng cáo hay không.

Thời hạn kháng cáo quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ

Một sai sót thường gặp là cho rằng mọi trường hợp kháng cáo đều có thời hạn 15 ngày.

Khoản 2 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định đối với quyết định tạm đình chỉ và quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, thời hạn kháng cáo chỉ là 07 ngày.

Thời hạn này được tính từ ngày đương sự nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết.

Sự khác biệt giữa thời hạn 15 ngày đối với bản án và 07 ngày đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ cần được đặc biệt chú ý. Nếu áp dụng nhầm thời hạn, người có quyền có thể nộp đơn khi quyền kháng cáo thông thường đã hết.

Đơn kháng cáo cần được nộp ở đâu?

Theo Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đơn kháng cáo phải được gửi cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành bản án hoặc quyết định bị kháng cáo.

Đơn cần đáp ứng đầy đủ các nội dung được pháp luật quy định. Người kháng cáo có thể cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nhằm chứng minh cho yêu cầu của mình.

Sau khi tiếp nhận, Tòa án cấp sơ thẩm kiểm tra tính hợp lệ của đơn.

Nếu đơn chưa đáp ứng quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án có thể yêu cầu người kháng cáo làm lại hoặc sửa đổi, bổ sung theo Điều 274 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự liên quan, kèm bản sao đơn kháng cáo theo khoản 1 Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

duong-su-can-xac-dinh-dung-thu-tuc-va-thoi-han-thuc-hien-de-tranh-mat-quyen-khieu-nai-hoac-khang-cao-trong-vu-an-dan-su-

Đương sự cần xác định đúng thủ tục và thời hạn thực hiện để tránh mất quyền khiếu nại hoặc kháng cáo trong vụ án dân sự.

Trường hợp kháng cáo quá hạn được giải quyết ra sao?

Đơn kháng cáo được gửi sau thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được xác định là kháng cáo quá hạn.

Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cho phép xem xét kháng cáo quá hạn nếu người thực hiện có lý do chính đáng.

Trong trường hợp này, người kháng cáo cần trình bày nguyên nhân không thể thực hiện quyền đúng thời hạn, đồng thời cung cấp tài liệu, chứng cứ nếu có để chứng minh.

Việc chấp nhận hay không chấp nhận kháng cáo quá hạn thuộc thẩm quyền của Hội đồng gồm ba Thẩm phán Tòa án cấp phúc thẩm.

Do đó, kháng cáo quá hạn không phải một quyền được tự động chấp nhận. Việc có được tiếp tục xét xử phúc thẩm hay không còn phụ thuộc vào đánh giá của Hội đồng đối với lý do và tài liệu mà người kháng cáo cung cấp.

Hậu quả pháp lý của việc kháng cáo

Kháng cáo có tác động trực tiếp đến hiệu lực thi hành của phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm bị phản đối.

Khoản 1 Điều 282 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc phần bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định được thi hành ngay.

Khoản 2 Điều 282 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định những phần không bị kháng cáo hoặc kháng nghị sẽ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Ngoài quyền kháng cáo của đương sự, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 còn quy định thời hạn kháng nghị đối với bản án của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày và của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án.

Như vậy, việc kháng cáo đúng thời hạn có ý nghĩa lớn đối với khả năng yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tiếp tục xem xét phần bản án mà đương sự chưa đồng ý.

Khiếu nại có làm tạm dừng quyết định bị phản đối không?

Hậu quả pháp lý của khiếu nại khác đáng kể so với kháng cáo.

Chương XLI Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 từ Điều 499 đến Điều 507 không quy định nguyên tắc rằng việc nộp đơn khiếu nại sẽ tự động làm tạm dừng việc thực hiện quyết định hoặc hành vi đang bị khiếu nại.

Do đó, khi đơn đang được xem xét, quyết định hoặc hành vi tố tụng về nguyên tắc vẫn có thể tiếp tục được thực hiện, trừ trường hợp người có thẩm quyền quyết định khác hoặc pháp luật có quy định riêng.

Đây là điểm mà người tham gia tố tụng cần nhận thức rõ. Việc đã gửi đơn khiếu nại không đồng nghĩa với việc mọi hoạt động tố tụng trong vụ án sẽ lập tức dừng lại.

Những khác biệt cơ bản giữa khiếu nại và kháng cáo

Sự khác nhau đầu tiên nằm ở đối tượng áp dụng.

Khiếu nại theo Điều 499 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 chủ yếu hướng đến quyết định hoặc hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng.

Kháng cáo theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 hướng đến bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ và quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Về thời hạn, khiếu nại có thời hiệu 15 ngày kể từ ngày người có quyền nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi theo Điều 502 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Kháng cáo có thời hạn 15 ngày đối với bản án và 07 ngày đối với quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ theo Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về cơ chế giải quyết, khiếu nại có trình tự lần đầu và lần hai theo Điều 504, Điều 505 và Điều 507 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Kháng cáo làm phát sinh việc xét xử lại ở cấp phúc thẩm theo Điều 270 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về hậu quả, khiếu nại không tự động làm dừng hiệu lực hoặc việc thực hiện quyết định, hành vi bị khiếu nại. Trong khi đó, phần bản án hoặc quyết định bị kháng cáo, kháng nghị về nguyên tắc chưa được đưa ra thi hành theo Điều 282 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, ngoại trừ trường hợp được pháp luật quy định thi hành ngay.

Chọn sai giữa khiếu nại và kháng cáo có thể dẫn đến hậu quả gì?

Rủi ro lớn nhất là bỏ lỡ thời hạn thực hiện quyền.

Nếu không đồng ý với nội dung bản án sơ thẩm nhưng đương sự lại sử dụng đơn khiếu nại theo Chương XLI thay cho đơn kháng cáo thì thủ tục này không thể thay thế quyền kháng cáo theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Khoản 2 Điều 499 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã phân biệt rõ trường hợp bản án, quyết định thuộc cơ chế kháng cáo, kháng nghị với thủ tục khiếu nại thông thường.

Nếu đến khi phát hiện sai sót thì thời hạn tại Điều 273 đã hết, người có quyền phải chuyển sang xem xét thủ tục kháng cáo quá hạn theo Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Lúc này, người kháng cáo phải chứng minh lý do chính đáng và việc đơn có được chấp nhận hay không phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng ba Thẩm phán.

Do vậy, ngay khi nhận được một văn bản của Tòa án mà không đồng ý, đương sự nên xác định trước loại văn bản và mục tiêu phản đối thay vì chỉ dựa vào tên gọi chung như “đơn khiếu nại”.

Rủi ro do tính sai thời hạn

Thời hiệu khiếu nại 15 ngày theo Điều 502 và thời hạn kháng cáo 15 ngày hoặc 07 ngày theo Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đều không dài.

Người tham gia tố tụng cần lưu giữ tài liệu thể hiện ngày nhận quyết định, bản án hoặc ngày văn bản được niêm yết để có cơ sở xác định thời hạn.

Việc chờ quá lâu mới rà soát hồ sơ hoặc nhầm ngày bắt đầu tính thời hạn có thể làm mất cơ hội thực hiện quyền theo thủ tục thông thường.

Đặc biệt đối với quyết định tạm đình chỉ và đình chỉ, thời hạn chỉ có 07 ngày. Nếu nhầm với mốc 15 ngày áp dụng cho bản án, đơn có thể trở thành kháng cáo quá hạn.

Rủi ro kháng cáo không đúng chủ thể hoặc vượt quá phạm vi

Quyền kháng cáo không được trao cho mọi cá nhân biết đến vụ án.

Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định cụ thể đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức và cá nhân khởi kiện là những chủ thể được quyền kháng cáo.

Do đó, cần xác định tư cách tố tụng trước khi đứng tên đơn.

Ngoài ra, phạm vi kháng cáo phải gắn với nội dung bản án hoặc quyết định đã được cấp sơ thẩm giải quyết. Người kháng cáo không nên đưa thêm những yêu cầu hoàn toàn mới nằm ngoài nội dung tranh chấp đã được xem xét.

Việc trình bày yêu cầu rõ ràng, xác định cụ thể phần bản án muốn sửa hoặc hủy giúp hạn chế tranh luận về phạm vi xét xử tại cấp phúc thẩm.

Có được vừa khiếu nại vừa kháng cáo trong cùng vụ án?

Pháp luật không loại trừ trường hợp trong cùng một vụ án phát sinh cả quyền khiếu nại và quyền kháng cáo, miễn là hai thủ tục hướng đến những đối tượng khác nhau.

Ví dụ, trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự có thể khiếu nại hành vi của người tiến hành tố tụng theo Điều 499 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Khi bản án sơ thẩm được ban hành, nếu không đồng ý với nội dung phán quyết thì người đó vẫn có thể thực hiện quyền kháng cáo theo Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Tuy nhiên, hai thủ tục hoạt động độc lập. Đơn khiếu nại không thay thế cho đơn kháng cáo và cũng không làm kéo dài thời hạn kháng cáo.

Nếu đối tượng phản đối chính là bản án hoặc quyết định sơ thẩm thuộc trường hợp đã có cơ chế kháng cáo thì khoản 2 Điều 499 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 yêu cầu áp dụng thủ tục tương ứng, không xử lý theo cơ chế khiếu nại chung.

Nộp nhầm đơn kháng cáo cho Tòa án cấp phúc thẩm

Theo Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đơn kháng cáo phải gửi đến Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành bản án hoặc quyết định bị kháng cáo.

Nếu người có quyền gửi nhầm đến Tòa án cấp phúc thẩm, cần sớm kiểm tra việc tiếp nhận và chuyển đơn để bảo đảm hồ sơ được xử lý đúng trình tự.

Trong những trường hợp thời hạn sắp kết thúc, việc theo dõi tình trạng đơn đặc biệt cần thiết nhằm tránh phát sinh tranh chấp về thời điểm thực hiện quyền kháng cáo.

Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có phải quyết định cuối cùng không?

Theo Điều 507 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực thi hành ngay sau khi ban hành.

Trong cơ chế khiếu nại thông thường được quy định tại Chương XLI Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đây là kết quả giải quyết cuối cùng của trình tự hai cấp.

Điều này đòi hỏi người khiếu nại phải chuẩn bị kỹ nội dung, tài liệu và chứng cứ ngay từ khi thực hiện khiếu nại lần đầu và tiếp tục hoàn thiện hồ sơ nếu phải thực hiện quyền khiếu nại lần hai.

Dịch vụ luật sư khiếu nại và kháng cáo của Chuyên tư vấn Luật

Chuyên tư vấn Luật hỗ trợ khách hàng xác định và thực hiện đúng quyền khiếu nại, kháng cáo khi tham gia giải quyết các vụ án dân sự.

Luật sư có thể rà soát bản án, quyết định, thông báo và các tài liệu tố tụng để xác định chính xác nội dung khách hàng muốn phản đối thuộc thủ tục khiếu nại hay kháng cáo.

Đối với khiếu nại, Chuyên tư vấn Luật hỗ trợ kiểm tra tính hợp pháp của quyết định, hành vi tố tụng; xác định thời hiệu theo Điều 502 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; xác định đúng thẩm quyền theo Điều 504; chuẩn bị đơn và các tài liệu cần thiết phục vụ quá trình giải quyết theo Điều 505 và Điều 507 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Trường hợp quyết định tố tụng đã có thủ tục khiếu nại riêng, luật sư hỗ trợ nhận diện đúng cơ chế để tránh áp dụng nhầm Chương XLI.

Đối với kháng cáo, luật sư có thể kiểm tra bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ; xác định căn cứ kháng cáo; tư vấn phạm vi kháng cáo toàn bộ hoặc một phần; tính chính xác thời hạn theo Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và hỗ trợ soạn đơn theo Điều 272.

Trong trường hợp đã hết thời hạn, hồ sơ có thể được rà soát để đánh giá căn cứ thực hiện kháng cáo quá hạn theo Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Chuyên tư vấn Luật cũng hỗ trợ khách hàng chuẩn bị chứng cứ, xây dựng luận cứ, rà soát những vấn đề liên quan đến quá trình thu thập và đánh giá chứng cứ, xác định căn cứ đề nghị sửa hoặc hủy bản án và tham gia bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng tại giai đoạn phúc thẩm.

Việc phân biệt đúng khiếu nại và kháng cáo giúp đương sự lựa chọn chính xác cơ chế bảo vệ quyền lợi, xác định đúng đối tượng, thẩm quyền và thời hạn thực hiện. Khiếu nại chủ yếu áp dụng đối với quyết định, hành vi tố tụng theo Điều 499 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trong khi kháng cáo hướng đến bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ và đình chỉ theo Điều 271; đồng thời cần đặc biệt lưu ý thời hiệu khiếu nại 15 ngày theo Điều 502 và thời hạn kháng cáo 15 ngày hoặc 07 ngày theo Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Chuyên tư vấn Luật cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

 Nguồn: Hướng dẫn phân biệt khiếu nại và kháng cáo trong vụ án dân sự

Xem thêm:

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

THỦ TỤC XIN XÓA QUY HOẠCH TREO MỚI NHẤT THEO LUẬT ĐẤT ĐAI 2024

Việc đất nằm trong quy hoạch treo trong thời gian dài đã và đang gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng, hạn chế các quyền hợp pháp của người sử dụng đất như chuyển nhượng, thế chấp, xây dựng… khiến đời sống kinh tế - xã hội của người dân bị ảnh hưởng không nhỏ. Trong bối cảnh này, thủ tục yêu cầu xóa quy hoạch treo trở thành nhu cầu cấp thiết và chính đáng của nhiều hộ gia đình, cá nhân. Để giúp người dân hiểu rõ và thực hiện đúng trình tự pháp lý, bài viết sau sẽ cung cấp thông tin toàn diện về căn cứ pháp luật, điều kiện, quy trình, hồ sơ và các vấn đề liên quan đến thủ tục xóa quy hoạch treo theo quy định mới nhất tại Luật Đất đai năm 2024.   Thủ tục yêu cầu xóa quy hoạch treo  Quy hoạch treo là gì và hậu quả của việc “treo” lâu dài Quy hoạch treo là hiện tượng một khu vực đất đã được xác định trong kế hoạch sử dụng đất, dự kiến thực hiện dự án nhưng trong nhiều năm không được triển khai trên thực tế, dẫn đến việc đất rơi vào tình trạng “chờ đợi”, không được sử dụng đúng mục...

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NGUYÊN TẮC

Trong hoạt động kinh doanh và đời sống dân sự, hợp đồng nguyên tắc là một công cụ pháp lý hữu ích, giúp các bên xác định rõ ràng những nguyên tắc cơ bản trong hợp tác. Tuy không đi vào chi tiết cụ thể như hợp đồng chính thức, hợp đồng nguyên tắc đóng vai trò quan trọng, tạo nền tảng vững chắc cho sự thành công của các giao dịch. Bài viết sau đây sẽ cung cấp chi tiết quy định pháp luật về hợp đồng nguyên tắc , bao gồm các trường hợp ký kết hợp đồng nguyên tắc và một số mẫu hợp đồng nguyên tắc phổ biến hiện nay. Hợp đồng nguyên tắc Tổng quan về hợp đồng nguyên tắc Hợp đồng nguyên tắc là sự thỏa thuận sơ bộ giữa các bên về những nội dung cơ bản, những nguyên tắc chung nhất của một giao dịch. Có thể hiểu hợp đồng nguyên tắc như một bản "ghi nhớ" hoặc "cam kết" về ý định hợp tác, tạo tiền đề cho việc đàm phán và ký kết hợp đồng chính thức sau này. Đặc điểm của hợp đồng nguyên tắc: Tính chất định hướng: Xác định khuôn khổ chung, những điểm cốt lõi của giao ...

TÌM HIỂU QUY ĐỊNH VỀ GIỮ LẠI TIỀN BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

Trong lĩnh vực xây dựng, việc đảm bảo chất lượng công trình luôn là yếu tố then chốt, quyết định sự bền vững và an toàn của dự án. Bên cạnh đó, việc bảo vệ quyền lợi của chủ đầu tư cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng, giúp đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quá trình hợp tác. Chính vì vậy, " giữ lại tiền bảo hành công trình " đã trở thành một điều khoản phổ biến, được quy định rõ ràng trong các hợp đồng xây dựng. Vậy tiền bảo hành công trình là gì? Mục đích của việc giữ lại tiền bảo hành là gì? Những quy định pháp lý nào liên quan đến vấn đề này? Bài viết sau đây sẽ cung cấp cho bạn đọc cái nhìn chi tiết và toàn diện về quy định giữ lại tiền bảo hành công trình xây dựng. Khi nào được giữ tiền bảo hành nhà ở của nhà thầu Mục Đích Giữ Lại Tiền Bảo Hành Công Trình Tiền bảo hành công trình, về bản chất, là một phần giá trị hợp đồng xây dựng mà chủ đầu tư tạm thời giữ lại sau khi công trình hoàn thành. Khoản tiền này đóng vai trò như một "cam kết" từ phía nhà t...