Lấy tiền công ty sử dụng cho việc riêng có thể làm phát sinh nhiều vấn đề pháp lý trong quá trình quản lý, điều hành doanh nghiệp. Tùy vào người thực hiện là nhân viên, kế toán, thủ quỹ, người quản lý hay người đại diện theo pháp luật, trách nhiệm pháp lý sẽ được xác định theo những căn cứ khác nhau.
Căn cứ xác định trách nhiệm pháp lý khi tiền công ty bị sử dụng cho mục đích cá nhân
Pháp luật hình sự không đặt ra một tội danh riêng có tên gọi “lấy tiền công ty sử dụng cho việc riêng”. Vì vậy, để xác định người thực hiện có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không, không thể chỉ dựa vào việc tiền doanh nghiệp đã được sử dụng cho nhu cầu cá nhân.
Cần xem xét đồng thời nhiều yếu tố, bao gồm tiền có nguồn gốc từ đâu, người thực hiện được giao quyền gì đối với khoản tiền đó, tài sản được giao hoặc tiếp nhận theo phương thức nào, việc sử dụng diễn ra ra sao và người thực hiện có ý định chiếm đoạt hay chỉ tạm thời sử dụng. Đây là những căn cứ quan trọng để xác định hướng áp dụng pháp luật phù hợp.
Trong từng trường hợp, hành vi có thể được xem xét theo tội tham ô tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội sử dụng trái phép tài sản hoặc tội chiếm giữ trái phép tài sản. Nếu các dấu hiệu cấu thành tội phạm chưa đầy đủ thì người thực hiện vẫn có thể phải hoàn trả tiền, bồi thường thiệt hại hoặc chịu trách nhiệm theo quan hệ lao động, quản trị nội bộ doanh nghiệp.
Khi người quản lý chiếm đoạt tiền công ty, có thể xem xét tội tham ô tài sản
Một trong những trường hợp cần đặc biệt lưu ý là người có chức vụ, quyền hạn được giao quản lý tài sản của doanh nghiệp nhưng lại lợi dụng vị trí của mình để chiếm đoạt tài sản.
Người thực hiện không nhất thiết phải là giám đốc hoặc người đại diện theo pháp luật. Tùy vào cơ cấu và sự phân công trong doanh nghiệp, kế toán trưởng, kế toán, thủ quỹ hoặc cá nhân được giao trực tiếp quản lý tiền, tài sản của công ty cũng có thể thuộc nhóm chủ thể cần được xem xét. Vấn đề cốt lõi là người đó phải có chức vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý đối với tài sản bị chiếm đoạt.
Khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 quy định tội tham ô tài sản được xác lập khi tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên. Trường hợp giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng nhưng người thực hiện trước đó đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, hoặc đã bị kết án về một trong các tội thuộc Mục 1 Chương XXIII Bộ luật Hình sự mà chưa được xóa án tích thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đặc biệt, khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015, được bổ sung năm 2017, đã mở rộng phạm vi áp dụng đối với người có chức vụ, quyền hạn trong doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước. Theo đó, người quản lý tại công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần nếu lợi dụng chức vụ để chiếm đoạt tiền mà mình được giao quản lý có thể thuộc trường hợp được xem xét về tội tham ô tài sản.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 352 Bộ luật Hình sự 2015 xác định người có chức vụ là người được bổ nhiệm, bầu cử, hợp đồng hoặc bằng hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ. Vì vậy, khi đánh giá một người có thuộc nhóm chủ thể này hay không, cần căn cứ vào nhiệm vụ và quyền hạn thực tế thay vì chỉ căn cứ vào chức danh trên giấy tờ.
Hành vi lấy tiền công ty dùng việc riêng có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự, dân sự hoặc trách nhiệm vật chất tùy trường hợp.
Giữ tiền công ty nhưng không trả lại có thể bị xử lý thế nào?
Không phải mọi trường hợp người lao động lấy tiền công ty đều liên quan đến việc người đó có quyền quản lý tài sản. Có những trường hợp người thực hiện không được giao quản lý tài sản nhưng lại đang trực tiếp nắm giữ khoản tiền thuộc sở hữu của doanh nghiệp và cố tình không hoàn trả.
Ví dụ, tiền của công ty được chuyển nhầm vào tài khoản cá nhân hoặc người lao động được tạm ứng tiền công tác, tiền quỹ nhưng không thực hiện quyết toán, không hoàn lại khoản tiền còn dư mặc dù doanh nghiệp đã yêu cầu. Khi đó, cần xác định nguồn gốc của tài sản và hoàn cảnh người đó có được tài sản để xem xét khả năng áp dụng Điều 176 Bộ luật Hình sự.
Theo khoản 1 Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người cố tình không trả lại cho chủ sở hữu tài sản bị giao nhầm hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản mà mình tìm được, khi tài sản có giá trị từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Khoản 2 Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015 quy định khung hình phạt nặng hơn đối với trường hợp tài sản bị chiếm giữ có giá trị từ 200.000.000 đồng trở lên. Điểm đáng chú ý là tội danh này không yêu cầu người thực hiện phải có chức vụ hoặc quyền hạn quản lý tài sản. Tuy nhiên, tài sản và hoàn cảnh phát sinh hành vi phải thuộc trường hợp mà Điều 176 quy định.
Trường hợp sử dụng tiền công ty sai mục đích nhưng chưa đến mức phạm tội
Doanh nghiệp cần phân biệt rõ giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự, lao động với hành vi có dấu hiệu tội phạm. Một nhân viên hoặc người quản lý sử dụng tiền doanh nghiệp sai mục đích nhưng chưa đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm thì không thể mặc nhiên kết luận người đó phải chịu trách nhiệm hình sự.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp vẫn có quyền yêu cầu hoàn trả khoản tiền đã sử dụng và yêu cầu bồi thường nếu phát sinh thiệt hại thực tế. Đồng thời, tùy thuộc vào mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người thực hiện, vụ việc có thể được xử lý theo Bộ luật Dân sự, pháp luật lao động hoặc pháp luật doanh nghiệp.
Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người có hành vi xâm phạm tài sản, quyền hoặc lợi ích hợp pháp của người khác gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời, đồng thời cho phép các bên thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức và phương thức thực hiện.
Nếu người sử dụng tiền là người lao động, doanh nghiệp còn phải xem xét quy định về trách nhiệm vật chất trong pháp luật lao động. Điều 71 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định trình tự xử lý trường hợp người lao động làm mất tài sản được giao hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động. Đối với những trường hợp bồi thường khác, việc xác định trách nhiệm được thực hiện theo Bộ luật Dân sự.
Phân loại hành vi để lựa chọn căn cứ pháp luật phù hợp
Việc lựa chọn phương án xử lý phụ thuộc trực tiếp vào bản chất của hành vi. Doanh nghiệp không nên chỉ dựa trên việc tiền đã bị sử dụng vào mục đích cá nhân mà cần làm rõ toàn bộ quá trình tiếp nhận, quản lý và sử dụng khoản tiền.
Đối với người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí để chiếm đoạt tài sản mà mình được giao quản lý, doanh nghiệp cần đối chiếu Điều 352 và khoản 1, khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự.
Nếu người thực hiện nhận tài sản một cách hợp pháp thông qua hợp đồng rồi sau đó mới phát sinh hành vi chiếm đoạt, cần xem xét các dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Nếu người đó vì mục đích vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của doanh nghiệp nhưng không nhằm chiếm đoạt thì cần đối chiếu Điều 177 Bộ luật Hình sự.
Trong trường hợp tài sản được giao nhầm hoặc người thực hiện tìm được, bắt được tài sản rồi cố tình không trả hoặc không giao nộp thì mới đặt ra việc xem xét Điều 176 Bộ luật Hình sự.
Nếu hành vi không đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm, doanh nghiệp có thể yêu cầu hoàn trả tiền, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý nội bộ phù hợp với Bộ luật Dân sự 2015, pháp luật lao động hoặc pháp luật doanh nghiệp.
Tách biệt tài sản doanh nghiệp và tài sản cá nhân của người quản lý
Khi phát sinh vụ việc, doanh nghiệp cần xác định rõ chế độ tài sản tương ứng với loại hình doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và công ty hợp danh có tư cách pháp nhân, đồng thời có tài sản độc lập với tài sản của thành viên, cổ đông theo quy định pháp luật.
Trong khi đó, doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Do đó, việc đánh giá một khoản tiền có phải tài sản của doanh nghiệp hay không và người sử dụng có quyền quyết định đối với khoản tiền đó hay không cần được thực hiện dựa trên loại hình doanh nghiệp, Điều lệ, quy chế tài chính và thẩm quyền thực tế của người thực hiện.
Bảo toàn chứng từ, sao kê ngân hàng và dữ liệu giao dịch là cơ sở quan trọng để doanh nghiệp lựa chọn hướng xử lý phù hợp.
Nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi quản lý tiền doanh nghiệp
Điểm a khoản 1 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định người đại diện theo pháp luật phải thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng và tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.
Đồng thời, điểm b khoản 1 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2020 yêu cầu người đại diện theo pháp luật phải trung thành với lợi ích của doanh nghiệp và không được lạm dụng địa vị, chức vụ hoặc sử dụng tài sản, thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.
Khoản 2 Điều 13 còn quy định trách nhiệm cá nhân của người đại diện theo pháp luật đối với thiệt hại gây ra cho doanh nghiệp do vi phạm những nghĩa vụ nêu trên. Vì vậy, trường hợp người đại diện tự ý sử dụng tiền doanh nghiệp cho mục đích cá nhân trái với thẩm quyền, Điều lệ, nghị quyết hoặc lợi ích của công ty thì cần xác định trách nhiệm dựa trên hành vi cụ thể và thiệt hại thực tế.
Người quản lý sử dụng tài sản công ty để tư lợi phải chịu trách nhiệm
Đối với công ty cổ phần, khoản 1 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc và người quản lý khác phải thực hiện quyền, nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông; đồng thời không được lợi dụng chức vụ hoặc sử dụng tài sản của công ty nhằm tư lợi.
Khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định người quản lý vi phạm các nghĩa vụ này phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới trong việc đền bù lợi ích bị mất, hoàn trả lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty và bên thứ ba.
Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác cần được xác định theo quy định riêng về quản trị công ty trách nhiệm hữu hạn, Điều lệ công ty và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật nếu người đó đồng thời giữ chức danh này.
Sử dụng tiền doanh nghiệp cho việc cá nhân có thể kéo theo rủi ro về thuế
Việc một người sử dụng tiền công ty cho mục đích cá nhân không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đương nhiên có hành vi trốn thuế. Vấn đề thuế chủ yếu phát sinh khi khoản tiền này được phản ánh không đúng bản chất trong hồ sơ kế toán, chứng từ hoặc hồ sơ khai thuế.
Chẳng hạn, doanh nghiệp có thể phát sinh rủi ro nếu khoản chi phục vụ lợi ích cá nhân lại được ghi nhận thành chi phí của doanh nghiệp, sử dụng chứng từ không hợp pháp hoặc che giấu giao dịch nhằm làm giảm số thuế phải nộp.
Từ ngày 01/7/2026, Luật Quản lý thuế 2025 có hiệu lực và thay thế khung quản lý thuế trước đó theo quy định chuyển tiếp của Luật. Do đó, doanh nghiệp cần chú ý đến thời điểm phát sinh, ghi nhận và xử lý các giao dịch để xác định đúng quy định thuế áp dụng.
Nếu khoản tiền dùng cho mục đích cá nhân bị ghi nhận sai thành chi phí doanh nghiệp, hậu quả về thuế phụ thuộc vào phương thức hạch toán và kê khai. Có trường hợp chỉ dẫn đến khai sai hoặc thiếu số thuế phải nộp; trường hợp khác có thể đáp ứng dấu hiệu trốn thuế theo khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025. Vì vậy, không thể đồng nhất tất cả trường hợp chi tiền sai mục đích với hành vi trốn thuế.
Theo Điều 44 Luật Quản lý thuế 2025, việc xử phạt được thực hiện theo từng nhóm hành vi. Điểm b khoản 3 Điều 44 quy định mức phạt 20% số tiền thuế khai thiếu hoặc số tiền thuế khai tăng trong trường hợp được miễn, giảm, hoàn, không thu đối với các hành vi thuộc phạm vi điều luật. Đối với hành vi trốn thuế quy định tại khoản 4 Điều 45, điểm c khoản 3 Điều 44 quy định mức phạt từ 01 lần đến 03 lần số tiền thuế trốn.
Dấu hiệu sử dụng tiền công ty có liên quan đến hành vi trốn thuế
Khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025 liệt kê 10 nhóm hành vi bị coi là trốn thuế. Trong đó có hành vi không ghi chép, không phản ánh trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp và sử dụng chứng từ, tài liệu không đúng với bản chất giao dịch nhằm làm giảm số thuế phải nộp.
Do đó, nếu tiền doanh nghiệp bị rút ra phục vụ nhu cầu cá nhân nhưng được che giấu trong hệ thống kế toán, chẳng hạn lập chứng từ hoặc hạch toán khống thành chi phí hợp lý trong khi thực chất là khoản chi cá nhân, hành vi có thể được xem xét theo nhóm hành vi trốn thuế quy định tại khoản 4 Điều 45.
Điểm c khoản 3 Điều 44 Luật Quản lý thuế 2025 quy định mức phạt từ 01 lần đến 03 lần số tiền thuế trốn đối với hành vi thuộc khoản 4 Điều 45. Doanh nghiệp cần rà soát sổ sách, chứng từ và hồ sơ khai thuế khi phát hiện dòng tiền bị sử dụng không đúng mục đích để kịp thời xử lý những sai lệch phát sinh.
Trình tự doanh nghiệp nên thực hiện khi phát hiện tiền bị sử dụng sai mục đích
Khi phát hiện tiền của doanh nghiệp bị lấy để sử dụng cho nhu cầu cá nhân, bước đầu tiên không nên là đưa ra kết luận về tội danh mà cần tập trung xác minh dòng tiền và bảo toàn chứng cứ. Việc xử lý khi chưa làm rõ thông tin có thể khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình yêu cầu hoàn trả, khởi kiện hoặc tố giác về sau.
Doanh nghiệp nên:
Kiểm tra sổ kế toán, sao kê ngân hàng, phiếu thu, phiếu chi, ủy nhiệm chi, chứng từ kế toán và lịch sử phê duyệt giao dịch để xác định số tiền, thời điểm giao dịch và người thực hiện hoặc phê duyệt.
Xác minh căn cứ người đó được quyền tiếp cận hoặc quản lý tiền thông qua Điều lệ, quy chế tài chính, quyết định bổ nhiệm, hợp đồng lao động, giấy ủy quyền và quy trình tạm ứng hoặc chi tiền.
Lập biên bản làm việc và yêu cầu người có liên quan giải trình bằng văn bản về nguồn tiền, mục đích sử dụng, số tiền đã chi, phần tiền còn lại và khả năng hoàn trả.
Giữ nguyên chứng cứ điện tử và chứng từ gốc như email, tin nhắn công việc, dữ liệu kế toán, lịch sử phê duyệt giao dịch và tài liệu ngân hàng; hạn chế chỉnh sửa dữ liệu gốc sau khi phát hiện vụ việc.
Tính toán thiệt hại thực tế, bao gồm số tiền chưa hoàn trả và các khoản thiệt hại khác nếu có căn cứ.
Sau khi hoàn thành bước xác minh, doanh nghiệp có thể lựa chọn hướng xử lý tương ứng. Nếu người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí để chiếm đoạt tài sản mà mình quản lý thì có thể xem xét Điều 353 Bộ luật Hình sự. Nếu người đó nhận tài sản hợp pháp thông qua hợp đồng rồi sau đó chiếm đoạt thì đối chiếu Điều 175.
Nếu hành vi chỉ là sử dụng trái phép tài sản vì vụ lợi mà không có mục đích chiếm đoạt thì cần xem xét Điều 177. Điều 176 chỉ được xem xét khi tài sản thuộc trường hợp được giao nhầm hoặc được tìm thấy, bắt được và người thực hiện cố tình không trả hoặc không giao nộp. Nếu không đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì có thể chuyển sang hướng yêu cầu hoàn trả, bồi thường theo Bộ luật Dân sự 2015 và pháp luật lao động.
Tố giác khi phát hiện dấu hiệu tội phạm
Nếu quá trình kiểm tra cho thấy vụ việc có dấu hiệu tội phạm, doanh nghiệp có thể gửi tố giác cùng tài liệu, chứng cứ đến cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận theo Bộ luật Tố tụng hình sự.
Khoản 1 Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 xác định tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.
Theo khoản 1 và khoản 2 Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tố giác và tin báo về tội phạm phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời và cơ quan có trách nhiệm không được từ chối tiếp nhận. Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát là những cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.
Hồ sơ doanh nghiệp nên cung cấp những nội dung cơ bản như:
Thông tin doanh nghiệp và người đại diện;
Thông tin người bị phản ánh, chức vụ và nhiệm vụ;
Quá trình người đó được giao quản lý hoặc tiếp cận tiền;
Số tiền và các giao dịch bất thường;
Thời điểm phát hiện vụ việc;
Nội dung giải trình của người liên quan;
Số tiền đã hoàn trả và số tiền còn thiếu;
Chứng từ kế toán, tài liệu ngân hàng, dữ liệu điện tử và các chứng cứ khác;
Nội dung đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xác minh hành vi có dấu hiệu tội phạm.
Theo khoản 1 Điều 146 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trường hợp tố giác trực tiếp thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và ghi vào sổ tiếp nhận. Nếu tố giác được gửi thông qua bưu chính, điện thoại hoặc phương tiện thông tin khác thì thông tin cũng phải được ghi nhận theo quy định.
Chuyên tư vấn Luật hỗ trợ xử lý trường hợp lấy tiền công ty sử dụng cho việc riêng
Việc giải quyết vụ việc liên quan đến tiền doanh nghiệp bị sử dụng cho mục đích cá nhân cần được thực hiện dựa trên chứng từ, dòng tiền, quyền quản lý tài sản và diễn biến thực tế. Chuyên tư vấn Luật có thể hỗ trợ doanh nghiệp rà soát hồ sơ và lựa chọn phương án xử lý phù hợp với từng trường hợp.
Các nội dung hỗ trợ gồm:
Kiểm tra chứng từ và đối chiếu sổ sách kế toán nhằm xác định giá trị tài sản bị chiếm đoạt hoặc chiếm giữ;
Đánh giá dấu hiệu pháp lý để phân biệt tội tham ô tài sản, tội chiếm giữ trái phép tài sản và trách nhiệm dân sự nội bộ;
Soạn thảo đơn tố giác tội phạm hoặc đơn khởi kiện yêu cầu bồi thường;
Đại diện doanh nghiệp làm việc với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc tham gia tố tụng tại Tòa án;
Tư vấn điều chỉnh sổ sách kế toán và nghĩa vụ thuế có liên quan sau khi vụ việc được xử lý.
Giải đáp một số vấn đề thường gặp
Giám đốc tự ý dùng tiền công ty cho nhu cầu cá nhân thì xử lý ra sao?
Theo khoản 2 Điều 165 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp có quyền yêu cầu giám đốc hoàn trả lợi ích đã nhận và bồi thường toàn bộ thiệt hại khi có căn cứ xác định người quản lý vi phạm nghĩa vụ. Nếu hành vi đáp ứng dấu hiệu của tội tham ô tài sản theo khoản 6 Điều 353 Bộ luật Hình sự 2015 thì doanh nghiệp có thể tố giác đến cơ quan điều tra để được xem xét theo quy định.
Tiền công ty bị rút và sử dụng sai mục đích có làm phát sinh trách nhiệm thuế không?
Có thể phát sinh nếu việc sử dụng tiền kéo theo hành vi hạch toán, kê khai không đúng bản chất giao dịch. Theo khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế 2025, trường hợp hành vi thuộc nhóm trốn thuế thì có thể bị xử phạt từ 01 lần đến 03 lần số tiền thuế trốn theo điểm c khoản 3 Điều 44 Luật Quản lý thuế 2025, ngoài các nghĩa vụ thuế liên quan.
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường tiền công ty bị sử dụng trái phép là bao lâu?
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Điều 588 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn cần xác định chính xác quan hệ pháp luật để áp dụng đúng thời hiệu.
Sau khi gửi tố giác, cơ quan có thẩm quyền xử lý như thế nào?
Việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm được thực hiện theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Doanh nghiệp nên chuẩn bị hồ sơ thể hiện rõ người liên quan, quá trình quản lý tiền, các giao dịch bất thường, chứng từ kế toán, dữ liệu ngân hàng và những tài liệu chứng minh khác để phục vụ việc kiểm tra, xác minh.
Lấy tiền công ty sử dụng cho việc riêng có thể dẫn đến nhiều dạng trách nhiệm pháp lý, nhưng việc có cấu thành tội phạm hay không phải được xác định dựa trên từng tình tiết cụ thể. Doanh nghiệp cần làm rõ người thực hiện có quyền quản lý tài sản hay không, khoản tiền được tiếp nhận bằng cách nào, mục đích sử dụng là gì, có ý thức chiếm đoạt hay không và thiệt hại thực tế đã phát sinh như thế nào. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp có thể xác định hướng xử lý về hình sự, dân sự, lao động, quản trị nội bộ hoặc thuế phù hợp với vụ việc.
Chuyên tư vấn Luật cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Hướng dẫn xử lý nhân viên lấy tiền công ty sử dụng cho việc riêng đúng luật
>>> Xem thêm:
- Mức phạt tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo luật
- Trách nhiệm hình sự của giám đốc khi kế toán trốn thuế: Cơ sở xác định và hướng xử lý cùng luật sư



Nhận xét
Đăng nhận xét