Bỏ trốn không trả nợ thường khiến chủ nợ rơi vào tình trạng khó liên hệ với người vay và gặp trở ngại khi yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên, việc người vay rời khỏi nơi cư trú, thay đổi số điện thoại hoặc mất liên lạc chưa đủ căn cứ để khẳng định người này đã phạm tội.
Bỏ trốn không trả nợ có phải là hành vi phạm tội không?
Khi một người vay tiền nhưng đến hạn không thanh toán rồi rời khỏi địa phương, cần xác định trước tiên đây là trường hợp vi phạm nghĩa vụ dân sự hay đã xuất hiện những dấu hiệu của tội phạm. Đây là vấn đề quan trọng bởi mỗi cơ chế xử lý có yêu cầu về chứng cứ và trình tự pháp lý khác nhau.
Quan hệ vay tiền thông thường được xác lập thông qua hợp đồng hoặc thỏa thuận giữa các bên. Nếu người vay nhận tiền một cách hợp pháp nhưng sau đó không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, chưa có căn cứ cho thấy họ thực hiện thủ đoạn gian dối hoặc hành vi chiếm đoạt thuộc quy định của pháp luật hình sự thì tranh chấp có thể được giải quyết bằng con đường dân sự.
Ngược lại, nếu quá trình vay tiền xuất hiện những hành vi có dấu hiệu gian dối hoặc chiếm đoạt tài sản, vụ việc có thể được xem xét dưới góc độ hình sự theo Điều 174 hoặc Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung).
Trường hợp người vay chỉ vi phạm nghĩa vụ trả nợ
Trong trường hợp các bên thực hiện giao dịch vay tài sản hợp pháp, người vay nhận tiền trên cơ sở thỏa thuận và không có căn cứ cho thấy việc nhận tiền ngay từ đầu được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt, việc chậm trả hoặc không trả nợ có thể chỉ làm phát sinh trách nhiệm dân sự.
Khi đó, chủ nợ có quyền yêu cầu người vay thực hiện nghĩa vụ theo các quy định về hợp đồng vay tài sản của Bộ luật Dân sự 2015. Tùy nội dung thỏa thuận, chủ nợ có thể yêu cầu thanh toán tiền gốc, tiền lãi và các nghĩa vụ liên quan nếu có căn cứ pháp luật.
Đáng lưu ý, việc người vay gặp khó khăn về kinh tế, chưa có khả năng thanh toán đúng hạn hoặc không còn liên lạc được không tự động dẫn đến trách nhiệm hình sự. Muốn xác định hành vi có dấu hiệu tội phạm phải xem xét thêm những yếu tố khác được pháp luật quy định.
Khi hành vi bỏ trốn có thể liên quan đến Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản?
Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đặc điểm đáng chú ý của trường hợp này là tài sản ban đầu được người thực hiện tiếp nhận một cách hợp pháp thông qua quan hệ vay, mượn, thuê hoặc hợp đồng.
Sau khi nhận tài sản, người này mới thực hiện hành vi thuộc trường hợp chiếm đoạt được điều luật quy định. Do đó, cần phân tích diễn biến của vụ việc để xác định hành vi sau khi nhận tài sản có đáp ứng dấu hiệu cấu thành tội phạm hay không.
Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao cũng cho thấy cần phân biệt giữa việc một người rời khỏi nơi cư trú thông thường với trường hợp bỏ trốn nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.
Vì vậy, chủ nợ không nên chỉ dựa vào việc người vay đã rời khỏi địa phương hoặc không nghe điện thoại để kết luận có hành vi phạm tội.
Những dấu hiệu cần xem xét theo Điều 175 Bộ luật Hình sự
Theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người thực hiện trước tiên phải nhận tài sản một cách hợp pháp. Sau đó, hành vi tiếp theo mới là yếu tố cần được xem xét để xác định có dấu hiệu chiếm đoạt hay không.
Các tình huống cần được đánh giá gồm việc người nhận tài sản sau khi vay, mượn, thuê hoặc nhận tài sản theo hợp đồng đã dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn nhằm chiếm đoạt; đến thời hạn trả tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng hoàn trả trong trường hợp luật quy định.
Ngoài hành vi cụ thể, việc xác định trách nhiệm hình sự còn phải xem xét điều kiện về giá trị tài sản và các trường hợp đặc biệt được quy định tại Điều 175.
Như vậy, không thể đồng nhất mọi trường hợp “vay tiền rồi bỏ trốn” với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Trường hợp có thể xem xét Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Điểm cần chú ý khi phân biệt với Điều 175 là thời điểm người thực hiện sử dụng thủ đoạn gian dối.
Đối với hành vi lừa đảo, thủ đoạn gian dối được thực hiện trước hoặc tại thời điểm chủ tài sản giao tiền, tài sản. Thông tin gian dối khiến người có tài sản tin tưởng và thực hiện việc giao tài sản.
Ví dụ, nếu một người ngay từ trước khi vay đã đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm tạo lòng tin để chủ tài sản giao tiền, trong khi mục đích thực tế là chiếm đoạt, vụ việc có thể được xem xét theo Điều 174 tùy thuộc vào chứng cứ và diễn biến cụ thể.
Cách phân biệt lừa đảo với lạm dụng tín nhiệm
Hai tội danh này có điểm khác biệt quan trọng liên quan đến thời điểm và phương thức hình thành hành vi chiếm đoạt.
Với Điều 174, thủ đoạn gian dối xuất hiện trước hoặc tại thời điểm tài sản được giao và có vai trò khiến chủ tài sản tin tưởng giao tài sản.
Với Điều 175, người thực hiện ban đầu nhận tài sản hợp pháp thông qua quan hệ vay, mượn, thuê hoặc hợp đồng, sau đó mới thực hiện hành vi thuộc trường hợp chiếm đoạt được luật quy định.
Việc người vay mất liên lạc, thay đổi số điện thoại hoặc chuyển khỏi nơi cư trú không đủ để tự xác định một trong hai tội danh.
Khi thực hiện tố giác, chủ nợ nên trình bày cụ thể toàn bộ quá trình giao dịch, từ thời điểm tiếp xúc, trao đổi, giao tiền cho đến những hành động của người vay sau khi nhận tài sản. Đây là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền đánh giá chính xác bản chất vụ việc.
Chủ nợ có thể khởi động hoặc tố giác khi có đủ cơ sở pháp lý.
Chủ nợ có thể làm gì khi người vay bỏ trốn?
Khi người vay không còn liên lạc hoặc có dấu hiệu né tránh nghĩa vụ, chủ nợ vẫn có nhiều phương án pháp lý để bảo vệ quyền lợi. Tùy hồ sơ và tình tiết thực tế, chủ nợ có thể lựa chọn khởi kiện dân sự, tố giác hành vi có dấu hiệu tội phạm hoặc đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Việc lựa chọn phương án nào cần dựa trên chứng cứ cụ thể thay vì chỉ căn cứ vào việc người vay đang bỏ đi hoặc không nghe điện thoại.
Tố giác khi có căn cứ về dấu hiệu chiếm đoạt
Nếu có căn cứ cho rằng người vay có hành vi thuộc Điều 174 hoặc Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), chủ nợ có quyền tố giác hành vi có dấu hiệu tội phạm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hồ sơ nên tập trung vào những tài liệu chứng minh quá trình giao nhận tiền hoặc tài sản và các tình tiết có liên quan đến dấu hiệu chiếm đoạt. Chẳng hạn như hợp đồng vay, giấy nhận tiền, sao kê hoặc chứng từ chuyển khoản, tin nhắn, email, giấy cam kết trả nợ và tài liệu thể hiện hành vi gian dối hoặc bỏ trốn nhằm chiếm đoạt nếu có.
Chủ nợ cần tránh việc chỉ trình bày rằng người vay “mất liên lạc” hoặc “đã bỏ đi” mà không cung cấp những tình tiết khác có giá trị chứng minh. Việc xác định tội danh phải dựa trên căn cứ theo Bộ luật Hình sự.
Khởi kiện yêu cầu thanh toán khoản nợ
Nếu vụ việc chủ yếu phát sinh từ quan hệ hợp đồng vay, chủ nợ có thể khởi kiện yêu cầu người vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Tùy vào hợp đồng và tài liệu chứng minh, các yêu cầu có thể bao gồm:
Yêu cầu thanh toán số tiền gốc còn nợ;
Yêu cầu trả lãi theo thỏa thuận trong giới hạn pháp luật;
Yêu cầu thanh toán khoản lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ nếu có căn cứ;
Yêu cầu bồi thường thiệt hại khi đáp ứng điều kiện;
Yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm nếu khoản vay có áp dụng biện pháp bảo đảm.
Việc xác định phạm vi yêu cầu cần căn cứ Bộ luật Dân sự 2015, nội dung thỏa thuận của các bên và các chứng cứ hiện có.
Đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, nếu có căn cứ cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ có nguy cơ bị ảnh hưởng hoặc tài sản có khả năng bị chuyển dịch, đương sự có thể đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 111 và Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Tùy trường hợp, có thể xem xét các biện pháp như:
Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc Kho bạc Nhà nước;
Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ;
Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp khi đáp ứng điều kiện;
Kê biên tài sản đang tranh chấp trong phạm vi luật định;
Các biện pháp khác phù hợp với Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Mỗi biện pháp đều có điều kiện và phạm vi áp dụng riêng. Vì vậy, chủ nợ cần xác định chính xác tài sản, đối tượng và căn cứ áp dụng trước khi đưa ra yêu cầu, không nên mặc nhiên yêu cầu kê biên hoặc phong tỏa tất cả tài sản của người vay.
Các bước cần thực hiện khi con nợ rời khỏi nơi cư trú
Khi khoản nợ có nguy cơ không thu hồi được do người vay mất liên lạc, chủ nợ nên tiến hành từng bước để hạn chế rủi ro và bảo đảm hồ sơ có đủ căn cứ pháp lý.
Bước đầu tiên: Kiểm tra và bảo quản chứng cứ khoản vay
Chủ nợ cần tập hợp tất cả tài liệu hình thành trong quá trình giao dịch. Những chứng cứ quan trọng có thể bao gồm hợp đồng vay, giấy vay tiền, giấy nhận nợ, chứng từ chuyển khoản, tin nhắn, email, tài liệu thể hiện việc giao nhận tiền, cam kết thanh toán và hồ sơ về tài sản bảo đảm nếu có.
Mục tiêu là chứng minh được giao dịch vay thực tế đã tồn tại, tiền hoặc tài sản đã được giao cho người vay và nghĩa vụ hoàn trả đã phát sinh.
Những trao đổi về việc xác nhận số tiền nợ, xin gia hạn, hẹn ngày trả hoặc thừa nhận nghĩa vụ cũng nên được lưu giữ để phục vụ việc đánh giá và giải quyết vụ việc.
Bước thứ hai: Xác định hướng dân sự hoặc hình sự
Sau khi hoàn thiện hồ sơ, chủ nợ cần đánh giá quá trình giao dịch để xác định cơ chế xử lý phù hợp.
Các vấn đề cần xem xét gồm việc người vay có cung cấp thông tin gian dối trước khi nhận tiền hay không; việc nhận tài sản ban đầu có hợp pháp không; sau khi nhận tiền có xuất hiện hành vi gian dối, che giấu, tẩu tán hoặc chiếm đoạt hay không; việc rời khỏi nơi cư trú có liên quan đến mục đích chiếm đoạt hay đơn thuần là thay đổi nơi ở.
Căn cứ Điều 174, Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), việc phân loại phải dựa trên chứng cứ cụ thể và diễn biến thực tế, không thể chỉ dựa vào thuật ngữ “bỏ trốn”.
Bước thứ ba: Chuẩn bị tố giác nếu có dấu hiệu tội phạm
Nếu hồ sơ cho thấy có dấu hiệu liên quan đến hành vi chiếm đoạt, chủ nợ có thể lập đơn tố giác và gửi kèm tài liệu chứng minh.
Nội dung nên trình bày theo trình tự thời gian, trong đó làm rõ số tiền hoặc tài sản đã giao, thông tin người vay cung cấp, mục đích vay theo thỏa thuận và những hành vi phát sinh sau khi nhận tiền.
Cách trình bày cụ thể sẽ giúp làm rõ các tình tiết có liên quan thay vì chỉ nêu việc người vay không nghe máy hoặc đã rời khỏi địa phương.
Bước thứ tư: Khởi kiện khi người vay đã thay đổi địa chỉ
Việc người vay không còn ở địa chỉ cũ không phải trong mọi trường hợp đều khiến chủ nợ không thể khởi kiện.
Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP đang có hiệu lực có hướng dẫn liên quan đến địa chỉ của người bị kiện và trường hợp đương sự thay đổi hoặc giấu địa chỉ.
Khi chuẩn bị đơn, chủ nợ cần cung cấp thông tin về địa chỉ theo đúng hướng dẫn và nêu căn cứ hoặc nguồn thông tin mà mình sử dụng. Không nên tự ý suy đoán địa chỉ mới của người vay nếu không có cơ sở.
Bước thứ năm: Xem xét biện pháp bảo toàn tài sản
Nếu có căn cứ cho thấy tài sản tranh chấp có nguy cơ bị chuyển nhượng, tài khoản có khả năng bị rút hoặc quyền lợi của chủ nợ có nguy cơ bị ảnh hưởng, có thể xem xét đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Điều 111, Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự hiện hành.
Yêu cầu cần xác định rõ tài sản hoặc đối tượng cần áp dụng và bảo đảm đáp ứng điều kiện tương ứng với từng biện pháp.
Bước thứ sáu: Thực hiện yêu cầu thi hành án
Sau khi bản án hoặc quyết định thuộc diện thi hành được ban hành, chủ nợ cần thực hiện quyền yêu cầu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự 2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026.
Theo khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025, thời hiệu yêu cầu thi hành án về nguyên tắc là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn, trừ những trường hợp luật quy định về thời gian không tính vào thời hiệu.
Việc xác minh điều kiện thi hành án được thực hiện theo Điều 37 Luật Thi hành án dân sự 2025. Các cơ quan, tổ chức có liên quan cũng có trách nhiệm cung cấp, chia sẻ thông tin về tài sản và điều kiện thi hành án theo quy định.
Thu hồi khoản nợ phụ thuộc vào chứng cứ và điều kiện hoạt động.
Không biết địa chỉ của con nợ có khởi kiện được không?
Một trong những khó khăn phổ biến khi đòi nợ là người vay đã chuyển khỏi nơi cư trú và chủ nợ không biết chính xác địa chỉ hiện tại. Tuy nhiên, cần xem xét tình trạng thông tin về người bị kiện thay vì mặc nhiên cho rằng không có địa chỉ hiện tại thì không thể khởi kiện.
Người vay chuyển nơi ở có làm mất quyền khởi kiện?
Chủ nợ vẫn có thể khởi kiện nếu đáp ứng các yêu cầu về xác định địa chỉ người bị kiện theo Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP.
Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP hiện vẫn có hiệu lực và có hướng dẫn về cách xác định, xử lý thông tin địa chỉ của người bị kiện trong quá trình giải quyết vụ án.
Do đó, việc không biết nơi ở hiện tại của người vay không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc chủ nợ không thể thực hiện quyền khởi kiện.
Người vay cố tình che giấu địa chỉ được xử lý thế nào?
Nếu chủ nợ đã cung cấp địa chỉ theo đúng hướng dẫn nhưng người bị kiện sau đó thay đổi nơi cư trú mà không thông báo hoặc có hành vi cố tình giấu địa chỉ, việc giải quyết sẽ được thực hiện theo cơ chế tại Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP.
Vì vậy, người vay thay đổi nơi ở không mặc nhiên làm chấm dứt quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp của chủ nợ.
Những vấn đề chủ nợ có thể gặp phải khi con nợ bỏ trốn
Quá trình thu hồi nợ không chỉ gặp khó khăn ở việc không liên hệ được với người vay. Chủ nợ còn phải lưu ý đến chứng cứ, tài sản, thời hiệu và khả năng thi hành bản án.
Nguy cơ xử lý hình sự đối với một quan hệ chỉ mang tính dân sự
Việc không trả nợ hoặc rời khỏi nơi cư trú chưa đủ để xác định hành vi phạm tội. Nếu hồ sơ chỉ chứng minh được quan hệ vay và việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán nhưng không thể hiện dấu hiệu của Điều 174 hoặc Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), vụ việc có thể vẫn thuộc phạm vi tranh chấp dân sự.
Do đó, việc lựa chọn tố giác hình sự cần dựa trên chứng cứ chứ không chỉ dựa vào việc người vay đã bỏ đi.
Không đủ tài liệu chứng minh ý định chiếm đoạt
Nếu muốn tố giác, chủ nợ cần chứng minh nhiều hơn việc người vay chưa thanh toán. Các tài liệu về thủ đoạn gian dối, mục đích chiếm đoạt hoặc hành vi xảy ra sau khi nhận tiền có thể có ý nghĩa trong việc đánh giá dấu hiệu của Điều 174 hoặc Điều 175.
Trường hợp hồ sơ chỉ thể hiện một khoản nợ tồn tại nhưng không có tài liệu chứng minh những dấu hiệu khác thì chưa thể mặc nhiên kết luận người vay phạm tội.
Tài sản bị chuyển nhượng hoặc thay đổi trước khi giải quyết
Trong thời gian tranh chấp chưa được giải quyết, tài sản của người vay có thể phát sinh biến động. Nếu có căn cứ và đáp ứng điều kiện luật định, chủ nợ có thể cân nhắc yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để hạn chế nguy cơ ảnh hưởng đến quyền lợi.
Tuy nhiên, việc áp dụng phải đúng đối tượng, phạm vi và điều kiện của từng biện pháp theo pháp luật.
Có bản án nhưng chưa thể thu hồi ngay khoản tiền
Bản án có hiệu lực pháp luật tạo cơ sở để yêu cầu thi hành án nhưng không đồng nghĩa với việc khoản tiền sẽ được thu hồi ngay lập tức.
Theo Luật Thi hành án dân sự 2025, Chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án theo Điều 37. Nếu người phải thi hành án chưa có tài sản, thu nhập hoặc điều kiện thực hiện nghĩa vụ thì việc thi hành có thể kéo dài và được xử lý theo quy định về trường hợp chưa có điều kiện thi hành án.
Bỏ qua thời hiệu khởi kiện hoặc thời hiệu thi hành án
Đối với tranh chấp hợp đồng, Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ ngày người có quyền biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Việc xác định thời hiệu còn phải xem xét Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự cùng các quy định của Bộ luật Dân sự về thời gian không tính vào thời hiệu và trường hợp bắt đầu lại thời hiệu.
Trong khi đó, thời hiệu yêu cầu thi hành án được xác định riêng. Theo khoản 2 Điều 34 Luật Thi hành án dân sự 2025, thời hiệu về nguyên tắc là 05 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực hoặc kể từ ngày nghĩa vụ đến hạn.
Vì vậy, chủ nợ cần theo dõi riêng từng giai đoạn để tránh nhầm lẫn giữa thời hiệu khởi kiện và thời hiệu yêu cầu thi hành án.
Dịch vụ luật sư hỗ trợ xử lý trường hợp con nợ bỏ trốn tại Chuyên tư vấn Luật
Chuyên tư vấn Luật hỗ trợ khách hàng rà soát hồ sơ, đánh giá bản chất vụ việc và xây dựng phương án xử lý khoản nợ dựa trên chứng cứ thực tế. Nội dung hỗ trợ có thể gồm:
Kiểm tra hợp đồng vay, giấy nhận nợ và chứng cứ giao nhận tài sản;
Phân tích quan hệ vay tài sản và dấu hiệu có thể liên quan đến trách nhiệm hình sự;
Đánh giá căn cứ áp dụng Điều 174 hoặc Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017);
Soạn thảo văn bản yêu cầu người vay thanh toán;
Hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ tố giác khi có căn cứ về dấu hiệu tội phạm;
Soạn đơn khởi kiện yêu cầu trả nợ;
Rà soát thông tin địa chỉ người bị kiện theo Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP;
Tư vấn việc đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
Đại diện tham gia tố tụng và làm việc với cơ quan có thẩm quyền;
Hỗ trợ thủ tục yêu cầu thi hành án và xác minh điều kiện thi hành án theo pháp luật hiện hành.
Bỏ trốn không trả nợ không mặc nhiên đồng nghĩa với việc người vay phạm tội hình sự. Chủ nợ cần dựa vào chứng cứ để xác định bản chất quan hệ vay, phân biệt dấu hiệu của Điều 174 và Điều 175 Bộ luật Hình sự, đồng thời xem xét quyền khởi kiện, biện pháp bảo toàn tài sản và thủ tục thi hành án. Việc người vay thay đổi nơi cư trú cũng không phải lúc nào làm mất quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp. Chuyên tư vấn Luật cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Bỏ trốn không trả nợ: Hướng giải quyết hiệu quả cho chủ nợ
Xem thêm:
- Xác minh điều kiện thi hành án dân sự thực hiện như thế nào?
- Chi phí đo đạc đất đai khi giải quyết tranh chấp dân sự



Nhận xét
Đăng nhận xét