Chuyển đến nội dung chính

CÁCH XÁC ĐỊNH CĂN CỨ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

 Căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự là nền tảng để Hội đồng định giá xác lập giá trị của tài sản có liên quan đến vụ án, từ đó phục vụ việc xác định trách nhiệm hình sự, khung hình phạt và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Nếu nguồn giá, thời điểm tham chiếu hoặc địa bàn khảo sát không phù hợp, kết luận định giá có thể không phản ánh đúng giá trị thực tế của tài sản. Vì vậy, việc hiểu rõ nguyên tắc lựa chọn căn cứ, phương pháp định giá và quyền đề nghị định giá lại giúp người bị buộc tội, bị hại, đương sự và doanh nghiệp chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp.

can-cu-dinh-gia-tai-san-trong-to-tung-hinh-su-can-duoc-xac-dinh-dua-tren-nguon-gia-thoi-diem-dia-diem-va-dac-diem-thuc-te-cua-tai-san-theo-quy-dinh-phap-luat

Căn cứ định giá tài sản trong tố tụng hình sự cần được xác định dựa trên nguồn giá, thời điểm, địa điểm và đặc điểm thực tế của tài sản theo quy định pháp luật 

Khái niệm định giá tài sản trong tố tụng hình sự

Trong nhiều vụ án hình sự, giá trị tài sản là thông tin cần thiết để cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ việc một cách chính xác. Đặc biệt, đối với những hành vi xâm phạm quyền sở hữu hoặc gây thiệt hại về tài sản, việc xác định đúng giá trị tại thời điểm có liên quan có thể tác động trực tiếp đến việc định tội, xác định khung hình phạt hoặc giải quyết yêu cầu bồi thường.

Theo khoản 1 Điều 215 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khi cần xác định giá của tài sản nhằm phục vụ việc giải quyết vụ án, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải ban hành văn bản yêu cầu định giá tài sản.

Văn bản này phải thể hiện những nội dung cơ bản như tên cơ quan yêu cầu định giá, họ tên người có thẩm quyền, Hội đồng định giá tài sản được yêu cầu thực hiện, thông tin và đặc điểm của tài sản, vấn đề cần xác định, ngày tháng năm yêu cầu và thời hạn trả kết luận.

Có thể hiểu, văn bản yêu cầu định giá là căn cứ khởi đầu cho thủ tục định giá. Trong khi đó, căn cứ định giá là toàn bộ nguồn thông tin, dữ liệu, tài liệu và mức giá mà Hội đồng sử dụng để hình thành kết luận về giá trị tài sản.

Nội dung về căn cứ định giá hiện được quy định cụ thể tại Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP.

Theo Điều 34 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án là những cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Trong phạm vi chức năng của mình, các cơ quan này có thể ra văn bản yêu cầu định giá khi việc xác định giá trị tài sản là cần thiết cho quá trình giải quyết vụ án.

Hội đồng định giá tài sản có thể được thành lập ở cấp xã, cấp tỉnh, cấp bộ hoặc theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ tùy vào đặc điểm, tính chất và yêu cầu của từng vụ việc theo Điều 7 đến Điều 11 Nghị định 250/2025/NĐ-CP.

Một điểm cần đặc biệt lưu ý là Nghị định 250/2025/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 22/9/2025, đồng thời thay thế Nghị định 30/2018/NĐ-CP và Nghị định 97/2019/NĐ-CP. Vì vậy, khi xem xét thủ tục định giá hiện nay, cần sử dụng quy định mới thay vì tiếp tục viện dẫn những văn bản đã hết hiệu lực.

thoi-diem-va-dia-diem-lay-gia-la-yeu-to-quan-trong-khi-kiem-tra-ket-luan-dinh-gia;-truong-hop-khong-co-du-lieu-phu-hop-tai-thoi-diem-yeu-cau

Thời điểm và địa điểm lấy giá là yếu tố quan trọng khi kiểm tra kết luận định giá; trường hợp không có dữ liệu phù hợp tại thời điểm yêu cầu

Các nhóm căn cứ định giá tài sản theo pháp luật hiện hành

Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP phân chia căn cứ định giá thành hai nhóm tương ứng với tính chất của tài sản.

Nhóm thứ nhất áp dụng đối với tài sản không phải hàng cấm. Nhóm thứ hai dành cho tài sản thuộc hàng cấm.

Sự phân loại này xuất phát từ khả năng lưu thông của tài sản trên thị trường. Đối với hàng hóa, tài sản được phép giao dịch, Hội đồng có thể thu thập giá mua bán, chào mua, chào bán hoặc dữ liệu do cơ quan có thẩm quyền công bố.

Ngược lại, hàng cấm không có thị trường giao dịch hợp pháp trong nước nên việc xác định giá cần sử dụng thêm các nguồn thông tin khác như giá thị trường khu vực, quốc tế hoặc giá của loại tài sản tương tự được phép lưu hành.

Căn cứ định giá đối với tài sản không phải hàng cấm

Khoản 1 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định hoạt động định giá đối với tài sản không phải hàng cấm phải dựa trên ít nhất một căn cứ theo quy định.

Trước hết, Hội đồng định giá có thể sử dụng giá của tài sản có hoạt động chuyển nhượng, chào mua hoặc chào bán công khai trên thị trường.

Nguồn dữ liệu này có ưu điểm là phản ánh trực tiếp mức giá đang tồn tại trong giao dịch và có khả năng đối chiếu tương đối thuận lợi.

Một căn cứ khác là giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định hoặc quyết định và còn hiệu lực tại thời điểm có yêu cầu định giá.

Trong trường hợp Nhà nước chỉ quy định mức giá tối đa, giá tối thiểu hoặc khung giá thì có thể căn cứ vào mức giá cụ thể do cơ quan hoặc đơn vị sản xuất, kinh doanh xác lập tại thời điểm được yêu cầu định giá.

Báo cáo thẩm định giá, chứng thư thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá hoặc báo cáo tư vấn giá của đơn vị tư vấn giá theo quy định pháp luật cũng được sử dụng làm nguồn tham khảo hợp pháp.

Ngoài ra, Hội đồng định giá được sử dụng mức giá thể hiện trong tài liệu, hồ sơ hợp pháp về loại tài sản đó do cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan yêu cầu định giá cung cấp.

Nếu không thu thập được các nguồn dữ liệu nêu trên, pháp luật cho phép Hội đồng xem xét những căn cứ khác như ý kiến của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có hiểu biết chuyên môn về tài sản; lời khai và hồ sơ của các bên có liên quan; mức giá của tài sản tương tự đã được định giá trong vụ án khác; hoặc dữ liệu giá từ các trang thông tin điện tử chính thức ở Việt Nam và nước ngoài.

Cách quy định này thể hiện nguyên tắc ưu tiên dữ liệu có tính công khai, khách quan và khả năng kiểm chứng cao trước khi sử dụng những nguồn thông tin gián tiếp hơn.

Định giá tài sản thuộc hàng cấm căn cứ vào đâu?

Đối với hàng cấm, khoản 2 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định một nhóm căn cứ riêng.

Hội đồng định giá có thể căn cứ vào giá của tài sản trên thị trường tại thời điểm và địa điểm nơi tài sản được yêu cầu định giá hoặc tại một địa phương khác có điều kiện phù hợp.

Nếu có hợp đồng, hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu liên quan đến hàng cấm thì mức giá được thể hiện trên những chứng từ này cũng có thể trở thành dữ liệu phục vụ việc xác định giá.

Báo cáo thẩm định giá, chứng thư thẩm định giá của doanh nghiệp thẩm định giá và báo cáo tư vấn giá tiếp tục là căn cứ được pháp luật công nhận.

Khi việc thu thập giá trong nước gặp khó khăn, Hội đồng có thể tham khảo giá thị trường khu vực hoặc thế giới của tài sản theo thông tin do cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền tại nước sở tại cung cấp hoặc công bố.

Giá niêm yết, giá ghi trong hợp đồng, hóa đơn mua bán hoặc tờ khai nhập khẩu của tài sản tương tự được phép kinh doanh, lưu hành tại Việt Nam cũng có thể được sử dụng để so sánh.

Pháp luật đồng thời cho phép tham khảo giá thị trường khu vực và thế giới đối với tài sản tương tự được phép kinh doanh, lưu hành hợp pháp tại các thị trường tương ứng.

Bên cạnh đó, những nguồn thông tin khác có khả năng hỗ trợ xác định giá do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự cung cấp cũng được xem xét. Cơ quan cung cấp phải chịu trách nhiệm về độ chính xác và độ tin cậy của dữ liệu.

Có thể thấy, phạm vi căn cứ định giá đối với hàng cấm rộng hơn so với tài sản thông thường. Nguyên nhân là loại tài sản này không có một thị trường giao dịch hợp pháp, công khai trong nước để Hội đồng có thể dễ dàng thu thập giá.

Quy định về thời điểm và địa điểm lấy giá tham chiếu

Không phải bất kỳ mức giá nào có thể thu thập được cũng mặc nhiên trở thành căn cứ hợp pháp.

Khoản 3 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP yêu cầu mức giá sử dụng để định giá phải gắn với thời điểm và địa điểm tài sản được yêu cầu định giá.

Trong trường hợp không thu thập được mức giá của tài sản hoặc tài sản tương tự tại đúng thời điểm yêu cầu, Hội đồng được phép sử dụng mức giá của thời điểm gần nhất.

Tuy nhiên, mốc giá thay thế này không được vượt quá 24 tháng tính ngược trở lại từ thời điểm được yêu cầu định giá.

Về địa bàn khảo sát, nếu tại nơi tài sản được yêu cầu định giá không có mức giá phù hợp, Hội đồng có thể mở rộng phạm vi thu thập dữ liệu theo hướng từ gần đến xa.

Những khu vực có điều kiện thị trường tương đồng được ưu tiên. Nếu trong lãnh thổ Việt Nam vẫn không có dữ liệu phù hợp, việc tham khảo thị trường khu vực hoặc thị trường thế giới có thể được thực hiện theo quy định.

Đây là tiêu chí quan trọng để kiểm tra một kết luận định giá.

Chẳng hạn, nếu Hội đồng sử dụng mức giá cách thời điểm cần định giá quá 24 tháng hoặc lấy giá từ một thị trường có đặc điểm khác biệt đáng kể mà không có căn cứ hợp lý, người có quyền lợi liên quan có thể xem xét đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu định giá lại.

Phương pháp định giá phải tương thích với căn cứ đã thu thập

Có nguồn thông tin về giá chưa đồng nghĩa với việc có thể lập ngay kết luận định giá.

Hội đồng còn phải lựa chọn phương pháp phù hợp để xử lý các dữ liệu thu thập được và chuyển những dữ liệu đó thành một giá trị cụ thể.

Khoản 3 Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP xác định rằng ngoài các căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2, hoạt động định giá còn phải dựa trên thông tin, tài liệu tương ứng với các phương pháp định giá được quy định tại Điều 23 Nghị định này.

Theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, việc lựa chọn phương pháp phải dựa trên loại tài sản, đặc điểm của tài sản, thông tin thu thập được và kết quả khảo sát thực tế.

Pháp luật chuyên ngành điều chỉnh trực tiếp đối với tài sản cần định giá được ưu tiên áp dụng trước.

Nếu pháp luật chuyên ngành không quy định phương pháp cụ thể, Hội đồng mới chuyển sang sử dụng phương pháp định giá chung đối với hàng hóa, dịch vụ hoặc phương pháp thẩm định giá theo quy định của pháp luật về giá.

Nguyên tắc này nhằm bảo đảm mỗi loại tài sản được đánh giá dựa trên đặc tính riêng thay vì áp dụng một phương pháp duy nhất cho mọi trường hợp.

Ví dụ, đất đai, hàng hóa nhập khẩu, kim khí quý, cổ vật hoặc tài sản đã qua sử dụng đều có những yếu tố đặc thù cần được phản ánh trong phương pháp xác định giá.

Nguyên tắc định giá một số tài sản có tính chất đặc thù

Khoản 2 Điều 23 Nghị định 250/2025/NĐ-CP có quy định riêng đối với một số loại tài sản.

Đối với tài sản chưa qua sử dụng, giá trị được xác định theo giá của tài sản cùng loại còn mới.

Với tài sản đã qua sử dụng, Hội đồng phải căn cứ vào giá trị còn lại sau quá trình sử dụng.

Trường hợp tài sản bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại một phần hay toàn bộ nhưng vẫn có khả năng khôi phục, việc định giá được thực hiện dựa trên hồ sơ về tài sản kết hợp với chi phí cần thiết để phục hồi.

Nếu tài sản bị mất, thất lạc hoặc hư hỏng toàn bộ và không thể khôi phục, giá trị được xác định dựa trên hồ sơ cùng những thông tin có thể thu thập được.

Đối với hàng giả, Hội đồng có thể căn cứ vào hồ sơ về tài sản. Trường hợp có cơ sở xác định hàng giả đã được mua bán như hàng thật, giá của hàng thật có thể được sử dụng làm cơ sở định giá.

Đối với kim khí quý, đá quý, di vật, cổ vật hoặc những loại tài sản không được mua bán phổ biến trên thị trường, việc định giá phải dựa vào kết quả giám định kết hợp với ý kiến chuyên gia.

Như vậy, tình trạng thực tế của tài sản là yếu tố không thể bỏ qua.

Một tài sản đã sử dụng trong thời gian dài không thể được xác định giá giống tài sản mới hoàn toàn nếu không đánh giá hao mòn, mức độ còn lại hoặc khả năng phục hồi.

co-the-de-nghi-dinh-gia-lai-tai-san-khi-co-can-cu-nghi-ngo-ket-luan-dinh-gia-lan-dau-chua-chinh-xac-chua-day-du-hoac-su-dung-can-cu-chua-phu-hop

Có thể đề nghị định giá lại tài sản khi có căn cứ nghi ngờ kết luận định giá lần đầu chưa chính xác, chưa đầy đủ hoặc sử dụng căn cứ chưa phù hợp

Quy trình hình thành kết luận định giá tài sản

Hoạt động định giá phải được tổ chức theo quy trình, không phải là việc Hội đồng tự chọn một mức giá rồi ghi nhận trong kết luận.

Theo Điều 21 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, trước khi tiến hành định giá, Hội đồng phải xây dựng kế hoạch định giá.

Kế hoạch cần xác định rõ nội dung yêu cầu; chính sách và văn bản pháp luật được áp dụng; phương pháp dự kiến sử dụng; loại dữ liệu, hồ sơ cần thu thập; tài liệu đã có và tài liệu còn thiếu; thời hạn thực hiện; cũng như nhiệm vụ của từng thành viên Hội đồng.

Chủ tịch Hội đồng là người phê duyệt kế hoạch và có thể điều chỉnh khi xuất hiện tình tiết hoặc dữ liệu mới trong quá trình thực hiện.

Tiếp theo là giai đoạn thu thập hồ sơ.

Theo khoản 1 Điều 19 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến yêu cầu định giá theo khoản 1 Điều 18 Nghị định này.

Trường hợp Hội đồng cần bổ sung tài liệu, khoản 3 Điều 19 Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định cơ quan tiến hành tố tụng phải cung cấp trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu.

Khoản 4 Điều 19 Nghị định 250/2025/NĐ-CP cũng yêu cầu hồ sơ được cung cấp phải là bản chính hoặc bản sao có đóng dấu bút lục hoặc giáp lai.

Sau khi hoàn thành việc định giá, Hội đồng phải lập kết luận định giá tài sản theo Điều 221 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Điều 28 Nghị định 250/2025/NĐ-CP quy định hồ sơ định giá gồm văn bản yêu cầu định giá, quyết định thành lập Hội đồng, biên bản các phiên họp, bản kết luận định giá và những tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp.

Đáng chú ý, mẫu Bản kết luận định giá tài sản ban hành kèm Nghị định 250/2025/NĐ-CP yêu cầu thể hiện rõ nội dung về nguyên tắc và căn cứ định giá tài sản.

Đây chính là phần người tham gia tố tụng nên kiểm tra khi muốn đánh giá liệu Hội đồng đã lựa chọn và áp dụng căn cứ đúng quy định hay chưa.

Trường hợp nào có thể đề nghị định giá lại tài sản?

Nếu có lý do cho rằng kết luận định giá lần đầu chưa chính xác, pháp luật không buộc các bên phải mặc nhiên chấp nhận kết quả đó.

Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định khi có nghi ngờ về kết luận định giá lần đầu, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể tự mình hoặc theo đề nghị của người bị buộc tội và người tham gia tố tụng khác có liên quan yêu cầu định giá lại.

Việc định giá lại được thực hiện bởi Hội đồng định giá tài sản cấp trên trực tiếp.

Theo Điều 26 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, thủ tục định giá lại được thực hiện khi cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có đầy đủ căn cứ nghi ngờ kết luận định giá lần đầu.

Nếu kết luận định giá lần đầu và kết luận định giá lại tiếp tục có sự mâu thuẫn, cơ quan tiến hành tố tụng có thể yêu cầu định giá lại lần thứ hai theo cơ chế pháp luật quy định.

Khi đề nghị định giá lại, người có quyền không nên chỉ trình bày rằng mức giá “không đúng” hoặc “quá thấp”.

Văn bản đề nghị sẽ có cơ sở hơn nếu chỉ ra cụ thể dấu hiệu chưa phù hợp, chẳng hạn mức giá được sử dụng vượt giới hạn 24 tháng, tài sản so sánh không có đặc điểm tương đồng, nguồn dữ liệu không đủ độ tin cậy, tình trạng tài sản chưa được đánh giá đầy đủ hoặc phương pháp định giá không phù hợp.

Định giá lại trong trường hợp đặc biệt được thực hiện ra sao?

Ngoài cơ chế định giá lại thông thường, pháp luật còn dự liệu trường hợp các kết luận định giá tiếp tục có sự mâu thuẫn.

Theo Điều 220 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Điều 27 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, trong trường hợp đặc biệt, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền quyết định việc định giá lại sau khi đã có kết luận định giá lại lần hai của Hội đồng định giá tài sản.

Kết luận được xác lập trong thủ tục đặc biệt là kết luận định giá cuối cùng được sử dụng để giải quyết vụ án.

Cơ chế này tạo thêm một tầng kiểm tra đối với những vụ việc mà kết quả định giá vẫn tồn tại mâu thuẫn đáng kể sau nhiều lần xem xét.

Sai sót trong căn cứ định giá có thể gây hậu quả gì?

Căn cứ định giá không đơn thuần là vấn đề nghiệp vụ.

Trong nhiều vụ án liên quan đến tài sản, giá trị tài sản là yếu tố định lượng được sử dụng để đánh giá trách nhiệm hình sự.

Nếu Hội đồng sử dụng nguồn giá không chính xác, mức giá quá cũ hoặc lựa chọn tài sản so sánh không tương đồng, kết luận cuối cùng có thể ảnh hưởng đến quá trình xác định tội danh và khung hình phạt.

Do đó, người bị buộc tội nên kiểm tra kỹ không chỉ mức giá được ghi nhận cuối cùng mà cả toàn bộ quá trình hình thành mức giá đó.

Những nội dung cần chú ý bao gồm nguồn thông tin giá, thời điểm khảo sát, địa điểm thu thập dữ liệu, đặc tính của tài sản so sánh, tình trạng sử dụng và phương pháp định giá.

Đối với bị hại hoặc đương sự, kết quả định giá còn liên quan đến việc xác định thiệt hại và mức bồi thường.

Nếu giá trị tài sản bị xác định thấp hơn thực tế do căn cứ không phù hợp, quyền lợi về bồi thường của người bị thiệt hại có thể bị ảnh hưởng.

Vì vậy, bị hại nên đối chiếu kết luận định giá với giấy tờ mua bán, tình trạng sử dụng, chất lượng tài sản, giá thị trường tại thời điểm liên quan và những tài liệu có khả năng chứng minh giá trị thực tế.

Chuyên tư vấn Luật hỗ trợ kiểm tra căn cứ định giá tài sản

Kết luận định giá trong vụ án hình sự cần được xem xét trên nhiều phương diện, từ văn bản yêu cầu định giá, căn cứ pháp lý, nguồn giá, thời điểm và địa điểm khảo sát đến phương pháp mà Hội đồng áp dụng.

Chuyên tư vấn Luật hỗ trợ khách hàng rà soát toàn diện những nội dung này nhằm phát hiện các điểm có khả năng chưa phù hợp với Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và Nghị định 250/2025/NĐ-CP.

Phạm vi hỗ trợ có thể bao gồm việc kiểm tra văn bản yêu cầu định giá; đối chiếu nguồn dữ liệu được Hội đồng sử dụng; đánh giá tính hợp lệ của thời điểm và địa điểm lấy giá; phân tích phương pháp định giá; xác định dấu hiệu có thể làm phát sinh căn cứ nghi ngờ kết luận lần đầu; tư vấn khả năng đề nghị định giá lại; soạn thảo văn bản gửi cơ quan tiến hành tố tụng và hỗ trợ khách hàng trong quá trình làm việc với cơ quan có thẩm quyền.

Việc rà soát đặc biệt cần thiết đối với các vụ án mà giá trị tài sản nằm gần các mức định lượng ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự hoặc khi kết quả định giá có tác động trực tiếp đến số tiền bồi thường.

Trong những trường hợp này, việc chỉ nhìn vào con số cuối cùng là chưa đủ. Cần kiểm tra toàn bộ nguồn dữ liệu và phương pháp đã tạo ra kết quả đó.

Tóm lại, việc xác định giá trị tài sản trong vụ án hình sự phải tuân thủ đúng các nhóm căn cứ tại Điều 20 Nghị định 250/2025/NĐ-CP, bảo đảm yêu cầu về nguồn giá, thời điểm, địa điểm và phương pháp định giá; khi có căn cứ nghi ngờ kết luận lần đầu, người tham gia tố tụng có thể đề nghị định giá lại theo Điều 218 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Chuyên tư vấn Luật cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.

Nguồn: Hướng Dẫn Chi Tiết Xác Định Các Căn Cứ Định Giá Tài Sản Trong Tố Tụng Hình Sự

Xem thêm: Hướng dẫn chi tiết quy trình xử lý lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

HƯỚNG DẪN ĐÒI LƯƠNG KHI NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ CHẬM THANH TOÁN

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

THỦ TỤC XIN XÓA QUY HOẠCH TREO MỚI NHẤT THEO LUẬT ĐẤT ĐAI 2024

Việc đất nằm trong quy hoạch treo trong thời gian dài đã và đang gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng, hạn chế các quyền hợp pháp của người sử dụng đất như chuyển nhượng, thế chấp, xây dựng… khiến đời sống kinh tế - xã hội của người dân bị ảnh hưởng không nhỏ. Trong bối cảnh này, thủ tục yêu cầu xóa quy hoạch treo trở thành nhu cầu cấp thiết và chính đáng của nhiều hộ gia đình, cá nhân. Để giúp người dân hiểu rõ và thực hiện đúng trình tự pháp lý, bài viết sau sẽ cung cấp thông tin toàn diện về căn cứ pháp luật, điều kiện, quy trình, hồ sơ và các vấn đề liên quan đến thủ tục xóa quy hoạch treo theo quy định mới nhất tại Luật Đất đai năm 2024.   Thủ tục yêu cầu xóa quy hoạch treo  Quy hoạch treo là gì và hậu quả của việc “treo” lâu dài Quy hoạch treo là hiện tượng một khu vực đất đã được xác định trong kế hoạch sử dụng đất, dự kiến thực hiện dự án nhưng trong nhiều năm không được triển khai trên thực tế, dẫn đến việc đất rơi vào tình trạng “chờ đợi”, không được sử dụng đúng mục...

TÌM HIỂU QUY ĐỊNH VỀ GIỮ LẠI TIỀN BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

Trong lĩnh vực xây dựng, việc đảm bảo chất lượng công trình luôn là yếu tố then chốt, quyết định sự bền vững và an toàn của dự án. Bên cạnh đó, việc bảo vệ quyền lợi của chủ đầu tư cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng, giúp đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quá trình hợp tác. Chính vì vậy, " giữ lại tiền bảo hành công trình " đã trở thành một điều khoản phổ biến, được quy định rõ ràng trong các hợp đồng xây dựng. Vậy tiền bảo hành công trình là gì? Mục đích của việc giữ lại tiền bảo hành là gì? Những quy định pháp lý nào liên quan đến vấn đề này? Bài viết sau đây sẽ cung cấp cho bạn đọc cái nhìn chi tiết và toàn diện về quy định giữ lại tiền bảo hành công trình xây dựng. Khi nào được giữ tiền bảo hành nhà ở của nhà thầu Mục Đích Giữ Lại Tiền Bảo Hành Công Trình Tiền bảo hành công trình, về bản chất, là một phần giá trị hợp đồng xây dựng mà chủ đầu tư tạm thời giữ lại sau khi công trình hoàn thành. Khoản tiền này đóng vai trò như một "cam kết" từ phía nhà t...

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG NGUYÊN TẮC

Trong hoạt động kinh doanh và đời sống dân sự, hợp đồng nguyên tắc là một công cụ pháp lý hữu ích, giúp các bên xác định rõ ràng những nguyên tắc cơ bản trong hợp tác. Tuy không đi vào chi tiết cụ thể như hợp đồng chính thức, hợp đồng nguyên tắc đóng vai trò quan trọng, tạo nền tảng vững chắc cho sự thành công của các giao dịch. Bài viết sau đây sẽ cung cấp chi tiết quy định pháp luật về hợp đồng nguyên tắc , bao gồm các trường hợp ký kết hợp đồng nguyên tắc và một số mẫu hợp đồng nguyên tắc phổ biến hiện nay. Hợp đồng nguyên tắc Tổng quan về hợp đồng nguyên tắc Hợp đồng nguyên tắc là sự thỏa thuận sơ bộ giữa các bên về những nội dung cơ bản, những nguyên tắc chung nhất của một giao dịch. Có thể hiểu hợp đồng nguyên tắc như một bản "ghi nhớ" hoặc "cam kết" về ý định hợp tác, tạo tiền đề cho việc đàm phán và ký kết hợp đồng chính thức sau này. Đặc điểm của hợp đồng nguyên tắc: Tính chất định hướng: Xác định khuôn khổ chung, những điểm cốt lõi của giao ...