Chuyển đến nội dung chính

Con Dâu Có Được Chia Tài Sản Nhà Chồng Không?

Con dâu là người phụng dưỡng chăm sóc ba mẹ chồng nhiều khi còn nhiều hơn cả con ruột của họ, đặc biệt là đối với những cặp vợ chồng sống chung với bố mẹ. Nhưng khi ba mẹ chồng qua đời thì liệu con dâu có nằm trong hàng thừa kế được hưởng di sản không? Con dâu có được chia tài sản nhà chồng không khi tài sản đó được ba mẹ chồng cho trong thời kỳ hôn nhân?
Nhà chồng chia tài sản cho con dâu
Con dâu có được chia tài sản từ nhà chồng không?

Con dâu có được hưởng thừa kế khi ba mẹ chồng mất không?

Để trả lời cho câu hỏi con dâu có được hưởng thừa kế khi ba mẹ chồng qua đời không, cùng tìm hiểu về chế định thừa kế theo quy định tại Bộ luật dân sự.
Nếu quan hệ giữa cha mẹ chồng và con dâu tốt thì cha mẹ chồng có thể viết di chúc để lại tài sản cho người con dâu đó. Căn cứ Điều 624 Bộ luật dân sự 2015 thì di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế. Do đó, trong di chúc ba mẹ chồng có cho con dâu hưởng thừa kế thì con dâu được quyền hưởng di sản theo di chúc.
Bên cạnh đó, con dâu có thể được chia tài sản bằng hợp đồng tặng cho của ba mẹ chồng hay những người bên nhà chồng.

Con dâu có được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật không?

Trong các trường hợp được hưởng thừa kế theo pháp luật thì con dâu không nằm trong diện được hưởng thừa kế của gia đình chồng. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 thì con dâu không nằm trong ba hàng thừa kế theo pháp luật. Do đó, con dâu không được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật khi ba mẹ chồng mất không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp.
Tuy nhiên, người chồng thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên được hưởng di sản do ba mẹ để lại. Xét trường hợp, người chồng chết sau ba mẹ thì con dâu được hưởng di sản của chồng bởi căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 thì vợ thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Do đó trong trường hợp, người chồng hưởng di sản từ bố mẹ đã mất, xong chồng chết thì con dâu là vợ được hưởng phần di sản đó cùng với những đứa con.

Con dâu có được chia tài sản ba mẹ chồng cho khi ly hôn không?

Con dâu có thuộc hàng được hưởng thừa kế theo pháp luật không?
Con dâu có được hưởng thừa kế theo pháp luật không?
Khi ly hôn, con dâu vẫn được chia tài sản nhà chồng trong trường hợp khối tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng và đã hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu trong thời kỳ hôn nhân.
Thứ nhất, căn cứ Khoản 1 Điều 33, Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì tài sản mà ba mẹ chồng tặng cho chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng.
Đối với tài sản tặng cho là động sản không phải đăng ký sở hữu thì thời điểm vợ chồng nhận tài sản là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tức là tài sản này là tài sản chung của vợ chồng theo Khoản 1 Điều 458 Bộ luật dân sự 2015.
Đối với tài sản tặng cho là động sản hoặc bất động sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng tặng cho là kể từ thời điểm đăng ký và giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng căn cứ Khoản 2 Điều 458, Điều 459 Bộ luật dân sự 2015.Lúc này thì tài sản được tặng cho mới là tài sản chung của vợ chồng.
Thứ hai, theo Khoản 2 Điều 59 Luật HN và GĐ 2014, khi ly hôn thì tài sản chung được chia theo thỏa thuận hoặc chia đôi.


Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

ĐIỀU KHOẢN BẢO HIỂM HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO ?

Điều khoản bảo hiểm hay là những điều quy định phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm đối với đối tượng được bảo hiểm bị tổn thất do những rủi ro hàng hải gây nên. Khi đối tượng được bảo hiểm theo điều kiện nào, chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong đó gây nên mới được bồi thường. Nước Anh là nước xây dựng luật bảo hiểm hàng hải sớm nhất (1906 - MIA). Trong bảo hiểm hàng hóa đường biển có các bộ điều khoản bảo hiểm do Hiệp hội bảo hiểm Luân Đôn ban hàng như ICC 1963, ICC 1982 hay mới nhất là ICC 2009. Các bộ Điều khoản bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu được sử dụng phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay. Dựa trên cơ sở luật này mà Việt Nam xây dựng các điều kiện bảo hiểm cơ bản gồm: QTC 1965, QTC 1990 do Bộ tài chính ban hành. Sau có QTC 1995, QTC 1998 do Bảo Việt ban hành, hay Petrolimex ban hành QTC 1998 PJCO. Khi mua bảo hiểm cho hàng hóa, trừ những trường hợp đặc biệt, chủ hàng phải mua bảo hiểm theo một trong ba điều kiện bảo hiểm gốc là A, B hoặc C. Ngoài ra, tùy theo hà

Milo Và Ovaltine – Cuộc Chiến Pháp Lý Về Cạnh Tranh Không Lành Mạnh

Mới đây, cộng đồng mạng chia sẻ 2 pano quảng cáo ngoài trời của 2 thương hiệu đồ uống với nội dung đối lập nhau. Trong khi thương hiệu Nestle Milo đặt slogan “Nhà vô địch làm từ Milo” với tôn màu chủ đạo là xanh lá cây thì bên kia đường thương hiệu sữa Ovaltine với tấm biển quảng cáo màu đỏ có in hình 2 mẹ con chỉ tay sang phía “đối thủ” kèm theo dòng chữ ”Chẳng cần vô địch, chỉ cần con thích”. Vấn đề này rốt cuộc là sao? Mời các bạn theo dõi bài viết. Tìm hiểu cuộc chiến pháp lý giữa hai thương hiệu đồ uống Cạnh tranh quảng cáo Milo Và Ovaltine có lành mạnh không? Nestle Việt Nam đã có công văn gửi Cục Văn hóa cơ sở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng Bộ Công Thương để đề nghị xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm luật quảng cáo. Đối tượng mà Nestle “tố” là Công ty Frieslandcampina, đơn vị sở hữu thương hiệu Ovaltine và đang thực hiện chiến dịch truyền thông cho Ovaltine. Với nội dung công văn phía Nestle ghi rõ là Ovalti

Xác định quan hệ trong tranh chấp đất đai

          Trong quá trình tham gia quan hệ pháp luật đất đai, việc bất đồng quan điểm, mâu thuẫn, xung đột ý kiến là điều khó tránh khỏi. Khi xảy ra mâu thuẫn về mặt lợi ích, xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật đất đai sẽ được gọi là tranh chấp đất đai. Quan hệ tranh chấp đất đai I. Những vấn đề lý luận liên quan đến tranh chấp đất đai 1. Khái niệm tranh chấp đất đai         Đất đai là loại tài sản đặc biệt, là tài nguyên của quốc gia được nhà nước giao cho người dân để sử dụng, quản lý. Đất đai không thuộc sở hữu của các bên tranh chấp mà thuộc sở hữu toàn dân. Điều này đã được quy định tại Điều 53 Hiến pháp 2013 và quy định cụ thể tại Điều 4 Luật Đất đai 2013: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”.         Trong quá trình tham gia quan hệ pháp luật đất đai không phải lúc nào các chủ thể cũng có