Thứ Bảy, 15 tháng 4, 2017

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ KHỞI KIỆN VÀ THỤ LÝ VỤ ÁN DÂN SỰ

1.  Khởi kiện vụ án dân sự
Các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền là tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm. Tuy nhiên, không phải chủ thể nào cũng có thể khởi kiện vụ án dân sự và bất kỳ vụ án dân sự nào cũng được đưa ra giải quyết mà ràng buộc các điều kiện sau:
-             Chủ thể nộp đơn khởi kiện có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Mặt khác, chủ thể yêu cầu phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự khi nộp đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 69 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, cụ thể như sau:
Về năng lực pháp luật, theo quy định tại Điều 16 Bộ luật Dân sự 2005: Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. 
Về năng lực hành vi dân sự được quy định tại Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015 là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.

-            Hình thức và phương thức nộp đơn khởi kiện phải phù hợp với quy định của pháp luật về cách thức của một đơn khởi kiện : ghi rõ ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện lên tòa án nhận đơn khởi kiện; tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện; tên, địa chỉ của người bị kiện; những vấn đề cụ thể yêu cầu tòa án giải quyết. Việc khởi kiện phải được thực hiện dưới hình thức văn bản. Khi nộp đơn khởi kiện, người khởi kiện phải xuất trình giấy tờ tùy thân như CMND, sổ hộ khẩu,..., giấy tờ chứng minh đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền (nếu đương sự là người đại diện của cơ quan, tổ chức,... Về phương thức nộp đơn khởi kiện cũng là thời điểm để xác định ngày khởi kiện, đương sự có thể nộp trực tiếp tại Tòa án (ngày nộp đơn chính là ngày khởi kiện), gửi đến tòa án thông qua dịch vụ bưu chính (ngày khởi kiện là ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi; nếu không xác định được thì ngày khởi kiện là ngày người nộp đơn gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính), hoặc khởi kiện trực tuyến bằng hình thức điện tử qua cổng thông tin điện tử của tòa án (ngày khởi kiện là ngày gửi đơn) (Điều 190 BLTTDS 2015).
-            Đảm bảo về thời hiệu khởi kiện đối với những tranh chấp có liên quan đến bất động sản hoặc yêu cầu về bồi thường thiệt hại, những tranh chấp phát sinh khác.
-            Sự việc yêu cầu giải quyết chưa được tòa án giải quyết. Đương sự có quyền khởi kiện lại theo khoản 3 Điều 192 BLTTDS 2015.
-            Vụ án không bị hạn chế khởi kiện.
-            Vụ án phải thuộc thẩm quyền của tòa án. Việc xác định đúng thẩm quyền của tòa án giải quyết sẽ đảm bảo việc thụ lý cũng như thủ tục tố tụng diễn ra thuận lợi, gồm xác định theo vụ việc, xác định theo lãnh thổ và theo cấp. Ngoài ra, có thể do hai bên lựa chọn nơi giải quyết nếu xảy ra tranh chấp về hợp đồng.
Nếu các đương sự không thỏa mãn những điều kiện trong quá trình nộp đơn khởi kiện như người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, hoặc sự việc đã được giải quyết bằng một bản án, quyết định trước đó đã có hiệu lực pháp luật cửa cơ quan nhà nước có thẩm quyền,... thì tòa án phải trả lại đơn khởi kiện cho đương sự kèm văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Tuy nhiên, người khởi kiện, Viện kiểm sát vẫn có quyền khiếu nại, kiến nghị đối với việc trả lại đơn khởi kiện của tòa án theo quy định tại Điều 194 BLTTDS 2015.
Trường hợp người khởi kiện nộp đơn khởi kiện đến tòa án nhưng tòa án không có thẩm quyền để giải quyết vụ việc dân sự đó thì tòa án đã nhận đơn khởi kiện phải chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho tòa án có thẩm quyền giải quyết, đồng thời phải gửi quyết định này đến Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan biết (Điều 41 BLTTDS 2015). Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có quyền khiếu nại; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị quyết định này trong vòng 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định.

2.  Thụ lý vụ án dân sự
Khi nhận đơn khởi kiện, tòa án phải ghi vào sổ nhận đơn và cung cấp giáy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Tùy vào phương thức khởi kiện của người nộp đơn mà ngày nộp đơn được xác định khác nhau. Về nguyên tắc, người khởi kiện gửi tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện và bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của tòa án trong quá trình giải quyết vụ án. Chánh án tòa án phải phân công một thẩm phán xem xét đơn khởi kiện trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn khởi kiện. Thời hạn giao nộp tài liệu chứng cứ do thẩm phán được phân công giải quyết vụ việc dân sự ấn định nhưng không được vượt quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Việc xử lý đơn được thực hiện theo sự phân công là 05 ngày làm việc kể từ ngày được phân công. Trong thời hạn này, thẩm phán phải đưa ra một trong các quyết định sau:
-            Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;
-            Chuyển đơn khởi kiện cho tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện, viện kiểm sát cùng cấp biết. Việc chuyển đơn có thể được thực hiện trước hoặc sau thời điểm thụ lý vụ án. Nếu chưa thụ lý, còn trong giai đoạn xem xét thụ lý mà phát hiện không thuộc thẩm quyền thì tòa án chuyển đơn khởi kiện và thông báo cho các đương sự biết; nếu đã thụ lý mới phát hiện không thuộc thẩm quyền thì tòa án ra quyết định chuyển hồ sơ vụ án dân sự cho tòa án có thẩm quyền và gửi cho viện kiểm sát cùng cấp, đương sự và người liên quan biết;
-            Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc không thuộc thẩm quyền của tòa án.

-            Thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để gải quyết theo thủ tục rút gọn. Ngoài những điều kiện nêu trên thì tòa án chỉ vào sổ thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp biên lai nộp tiền tạm ứng án phí trong thời hạn được thông báo. Trong trường hợp họ được miễn nộp hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì tòa án chỉ thụ lý khi nhận được đơn khởi kiện hoặc nhận được tài liệu, chứng cứ kèm theo. Theo điều 195 BLTTDS 2015 thì nếu thấy vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án thì thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để đến tòa làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí. Tòa án sẽ dự tính số tiền tạm ứng án phí và báo cho người có nghĩa vụ trong vòng 07 ngày kể từ ngày nhận được giấy báo phải đến tòa án nộp tạm ứng án phí.

 Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét