Thứ Tư, 31 tháng 10, 2018

Grab – Doanh Nghiệp Dịch Vụ Vận Tải Hay Doanh Nghiệp Dịch Vụ Phần Mềm?

Theo kế hoạch, chiều 29.10 TAND TP.HCM sẽ tuyên án vụ tranh chấp giữa Công ty cổ phần Ánh Dương Việt Nam (Vinasun) kiện đòi Công ty TNHH GrabTaxi Việt Nam (GrabTaxi, Grab) bồi thường hơn 41 tỷ đồng. Tuy nhiên, HĐXX xét nhận thấy cần phải xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan kết luận giám định mới có cơ sở phân định chính xác. Vì vậy, HĐXX quyết định tạm ngừng phiên tòa. Phiên tòa sẽ được mở lại vào ngày 22/11.
Grab không phải là doanh nghiệp dịch vụ vận tải
Grab là doanh nghiệp dịch vụ phần mềm theo quy định của pháp luật

Vinasun kiện đòi bồi thường hơn 41 tỷ dựa trên cơ sở nào?

Với lý do Grab là doanh nghiệp kinh doanh vận tải taxi, một lĩnh vực cùng ngành nghề với Vinasun. Grab thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, đánh tráo khái niệm, gây thiệt hại về doanh thu, lợi nhuận của Vinasun. Cụ thể, từ khi Grab tham gia dịch vụ vận tải, lượng xe Grab tăng liên tục do thực hiện hàng loạt hành vi vi phạm như khuyến mãi 0 đồng, thực hiện chương trình mỗi tài xế giới thiệu người tham gia sẽ được thưởng và mỗi cuốc xe sẽ được hưởng trợ giá; hỗ trợ lái xe vay tiền ngân hàng để mua xe chạy Grab… khiến tài xế Vinasun nghỉ việc, chuyển sang chạy Grab và hơn 2.770 xe của Vinasun phải nằm bãi từ năm 2016 đến 6 tháng đầu năm 2017.
Vinasun kiện Grab
Nguyên nhân Vinasun kiện đòi Grab bồi thường hơn 41,2 tỷ đồng

Grab là doanh nghiệp dịch vụ vận tải hay doanh nghiệp dịch vụ phần mềm?

Thứ nhất, theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định 86/2014 quy định Kinh doanh vận tải bằng xe ô tô là việc sử dụng xe ô tô vận tải hàng hóa, hành khách trên đường bộ nhằm mục đích sinh lợi; bao gồm kinh doanh vận tải thu tiền trực tiếp và kinh doanh vận tải không thu tiền trực tiếp.
Như vậy để xác định Grab có phải là doanh nghiệp kinh doanh vận tải hay không thì cần xác định liệu phía công ty cung cấp phần mềm này có sử dụng xe để chở hành khách nhằm mục đích sinh lời. Trong tình huống này thì Grab không hề sở hữu một chiếc xe ô tô nào. Các tài xế tham gia Grab đều tự sử dụng xe riêng của mình, bên công ty chỉ cung cấp ứng dụng đặt xe từ phía khách hàng cho tài xế, và trừ vào chiết khấu của mỗi tài xế theo chuyến đi. Tiền khách hàng trả cho tài xế về chuyến đi là của tài xế chứ không thuộc về Grab. Grab chỉ là trung gian kết nối giữa những người tài xế xe với khách hàng của họ.
Thứ hai, theo Grab cho biết giá cước do doanh nghiệp (DN), Hợp tác xã (HTX) vận tải quyết định. Đây là do lập trình thuật toán có sẵn. Grab chỉ hỗ trợ chứ không quản lý tài xế. Như vậy cần xác định ai là người quản lý tài xế khi tham gia vào phần mềm này.
Nếu xét theo hợp đồng lao động thì Grab không có ký bất kì một hợp đồng lao động nào với tài xế. Grab không có trả lương theo hợp đồng. Mặt khác, về thời gian lao động, giữa Grab với tài xế không có sự thỏa thuận về thời gian rõ ràng là liên tục hay một thời gian cụ thể mà tài xế có thể tự chủ động linh hoạt về thời gian. Tuy nhiên, điều kiện để các tài xế xe tham gia chạy Grab là  trước hết phải tham gia vào hợp tác xã vận tải và chịu sử quản lý của HTX vận tải này. Như vậy, việc tham gia vào HTX vận tải chính là một chứng cứ chứng minh HTX vận tải là người quản lý các tài xế xe.
Thứ ba, theo Khoản 1 Điều 7 Nghị định 86/2014/NĐ-CP thì Kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng là kinh doanh vận tải không theo tuyến cố định và được thực hiện theo hợp đồng vận tải bằng văn bản giữa đơn vị kinh doanh vận tải và người thuê vận tải.
Trên thực tế, Grab không ký bất kỳ hợp đồng vận chuyển nào, cũng không phải là chủ thể trong hợp đồng vận chuyển. Hợp đồng điện tử trong trường hợp này được ký giữa bên vận chuyển với hành khách – trong hợp đồng này chỉ có ý chí thống nhất của bên vận chuyển và hành khách mà không có ý chí của Grab. Thực chất đây chỉ là phương thức giao kết chứ không phải là mô hình kinh doanh và không đúng quy định về xe hợp đồng. Căn cứ vào Điều 7 Nghị định 86/2014/NĐ-CP, Điều 44, Điều 45 Thông tư số 63/2014/TT-BGTVT thì hình thức vận tải kết nối qua phần mềm của Grab không có đủ cấu thành của một hợp đồng vận tải, nên không thể xếp vào hình thức vận tải hợp đồng.
Mô hình kinh doanh của Grab
Grab là doanh nghiệp dịch vụ phần mềm hay vận tải theo pháp luật
Như vậy với những phân tích trên thì Grab là doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ phần mềm. Grab cung cấp phần mềm để kết nối các đơn vị vận chuyển với khách hàng có nhu cầu, môi giới và làm trung gian giữa bên cung cấp dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ vận chuyển.
Cần nhận diện dịch vụ kinh doanh kiểu Grab theo đúng bản chất của dịch vụ là môi giới công nghệ trong lĩnh vực vận tải. Như thế sẽ giải quyết được những thắc mắc của người dân cũng như những công ty kinh doanh vận tải, đem lại bình đẳng trong kinh doanh, bảo vệ tốt quyền lợi khách hàng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động cũng như thực hiện tốt nghĩa vụ thuế cho Nhà nước.


Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Tư Vấn Về Cấp Dưỡng Con Khi Ly Hôn

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác. Như vậy, việc cấp dưỡng cho con khi ly hôn cụ thể sẽ như thế nào?
Cấp dưỡng khi ly hôn
Cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn theo quy định hiện hành

Mức cấp dưỡng nuôi con tối thiểu là bao nhiêu?

Mức cấp dưỡng cho con khi ly hôn được quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Theo đó, mức cấp dưỡng do cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng và người con được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người con được thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng là cha mẹ và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng là con; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Pháp luật không quy định cụ thể mức cấp dưỡng là bao nhiêu mà phải căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng, nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng và đương nhiên những chi phí này là chi phí hợp lý. Do vậy, không có mức cấp dưỡng tối thiểu cụ thể cho con khi ly hôn.

Phương thức cấp dưỡng cho con khi ly hôn như thế nào?

Theo quy định tại Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì việc cấp dưỡng có thể được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần.
Các bên có thể thỏa thuận thay đổi phương thức cấp dưỡng, tạm ngừng cấp dưỡng trong trường hợp người có nghĩa vụ cấp dưỡng lâm vào tình trạng khó khăn về kinh tế mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Thời gian cấp dưỡng nuôi con là bao lâu?

Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt khi con anh đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình;
Như vậy, khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đến khi con đủ mười tám tuổi. Đối với trường hợp con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì người không trực tiếp nuôi con phải cấp dưỡng đến khi người con không còn ở trong tình trạng thuộc các trường hợp này nữa.
Thời hạn cấp dưỡng
Thời hạn để cấp dưỡng nuôi con khi vợ chồng ly hôn
Tình trạng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình phải xuất phát từ các điều kiện khách quan như bản thân người con bị tàn tật, thường xuyên đau ốm, sức khỏe yếu không đủ khả năng tham gia lao động.
Người từ đủ mười tám tuổi (người thành niên) là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, tự mình tham gia, xác lập, thực hiện, hưởng các quyền và tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ pháp lý trong các quan hệ pháp luật. Họ hoàn toàn có đủ khả năng tham gia lao động phổ thông để có thu nhập nuôi sống bản thân và đương nhiên sẽ không nhận được tiền cấp dưỡng từ người bố hoặc mẹ đã ly hôn nữa.
Theo Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về Chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng:

Không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con có sao không?

Theo Điều 107 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.
Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh nghĩa vụ thì theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật này, Tòa án buộc người đó phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này.
Trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
Trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng cho con khi vợ chồng ly hôn
Theo đó, nếu không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, có nghĩa là đã vi phạm quy định của pháp luật về cấp dưỡng. Nếu không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng của mình thì khi có yêu cầu giải quyết của người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì Tòa án sẽ áp dụng biện pháp cưỡng chế yêu cầu thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
Ngoài ra, hành vi cố ý không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng quy định tại Điều 186 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.


Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Tư Vấn Thủ Tục Ly Hôn Đơn Phương

Thủ tục ly hôn đơn phương là việc tòa án giải quyết ly hôn đơn phương theo trình tự tố tụng dân sự. Vậy ly hôn đơn phương là như thế nào? Là trường hợp ly hôn không xuất phát từ ý chí của cả hai vợ chồng. Và chỉ khi người nộp đơn ly hôn chứng minh được việc ly hôn là có căn cứ thỏa mãn điều kiện của pháp luật thì mới được tòa án chấp nhận ra quyết định ly hôn. 
Ly hôn đơn phương
Thủ tục ly hôn đơn phương theo pháp luật hiện hành

Điều kiện ly hôn đơn phương như thế nào?

Theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì điều kiện ly hôn đơn phương như sau:
  • Khi một trong vợ chồng yêu cầu ly hôn thì tòa án giải quyết ly hôn. Nếu bên còn lại đã bị tòa án tuyên bố mất tích. Hoặc hòa giải yêu cầu ly hôn tại tòa án không thành và có căn cứ vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
  • Cha, me, người thân thích tại Khoản 2 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có yêu cầu ly hôn thì tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.
Lưu ý: Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi theo Khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Thủ tục ly hôn đơn phương nhanh nhất tiến hành ra sao?

Tại Phần thứ hai Bộ luật tố tụng dân sự 2014, tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương như sau:
  • Bước 1: Nộp hồ sơ khởi kiện tại TAND cấp huyện nơi bị đơn (vợ hoặc chồng bị khởi kiện) đang cư trú, làm việc. Có thể thỏa thuận yêu cầu tòa án giải quyết tranh chấp tại nơi cư trú của nguyên đơn (người đi khởi kiện).
  • Bước 2: Trong 5 ngày làm việc, từ ngày được phân công thì Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và ra quyết định. Khi thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì thông báo cho người khởi kiện để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí.
Cách nhanh nhất để ly hôn đơn phương
Các bước tiến hành ly hôn đơn phương hiện nay
  • Bước 3: Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
  • Bước 4: Tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên. Khi vợ hoặc chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì không tiến hành hòa giải được. Nếu hòa giải thành, Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
  • Bước 5: Nếu hòa giải thành, Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Nếu không thành thì ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tiến hành mở phiên tòa để tuyên án.

Nội dung khởi kiện, hồ sơ đính kèm và thời hạn giải quyết thủ tục ly hôn đơn phương ra sao?

Nội dung khởi kiện phải có các nội dung chính tại Khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, gồm:
  • Thời gian làm đơn khởi kiện
  • Tên Tòa án giải quyết.
  • Thông tin của bên khởi kiện, bên bị kiện (tên, nơi cư trú, làm việc; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).
  • Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.
  • Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.
Hồ sơ đính kèm đơn khởi kiện gồm có:
  • Đơn khởi kiện ly hôn.
  • Bản sao y sổ hộ khẩu của vợ chồng.
  • Bản sao y chứng minh nhân dân của vợ chồng.
  • Những chứng từ chứng minh tài sản chung của vợ chồng (nếu có tài sản chung cần chia).
  • Bản sao y giấy khai sinh của con bạn.
  • Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính).
  • Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho căn cứ ly hôn.
Theo Chương XII, XIII Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì thời hạn để giải quyết thủ tục ly hôn đơn phương khoảng 4 – 6 tháng.


Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Thứ Ba, 30 tháng 10, 2018

Thủ Tục Ly Hôn Có Yếu Tố Nước Ngoài

Thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài là các bước tiến hành ly hôn giữa một bên là công dân Việt Nam và một bên là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa các bên là người nước ngoài nhưng sinh sống tại Việt Nam; giữa người Việt Nam với nhau nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Hướng dẫn ly hôn có yếu tố nước ngoài
Tư vấn thủ tục ly hôn có yếu tố nước ngoài

Thuận tình ly hôn có yếu tố nước ngoài là gì?

Theo Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình 2014, thuận tình ly hôn có yếu tố nước ngoài là việc vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn trên tinh thần tự nguyện và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.
Khi các bên tiến hành yêu cầu ly hôn thì nộp đơn yêu cầu tại Tòa án có thẩm quyền. Sau khi Tòa án nhận đơn nếu hồ sơ hợp lệ và đúng thẩm quyền thì sẽ yêu cầu nộp tạm ứng lệ phí. Khi đã nộp tạm ứng lệ phí thì Tòa án sẽ thụ lý vụ án. Khi không có bất cứ một sự tranh chấp nào về tài sản, con cái,… thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn.

Ly hôn đơn phương có yếu tố nước ngoài là gì?

Đây là trường hợp tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Ly hôn đơn phương có yếu tố nước ngoài là việc ly hôn có yếu tố nước ngoài mà một trong hai vợ chồng hoặc chủ thể có quyền theo luật định nộp đơn ly hôn tại Tòa án có thẩm quyền. Đây là trường hợp ly hôn không xuất phát từ ý chí của cả hai vợ chồng. Và chỉ khi người nộp đơn ly hôn chứng minh được việc ly hôn là có căn cứ thỏa mãn điều kiện của pháp luật thì mới được tòa án chấp nhận ra quyết định ly hôn.

Thẩm quyền Tòa án Việt Nam và hồ sơ ly hôn như thế nào?

Thẩm quyền Tòa án Việt Nam được quy định tại Điều 35, 37, 39, 469, 470 BLTTDS 2015. Khi giải quyết ly hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam thì TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết. Nếu không thuộc trường hợp trên thì việc giải quyết ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh. Đối với thuận tình ly hôn thì Tòa án nơi một trong hai vợ chồng cư trú, làm việc. Đối với ly hôn đơn phương thì Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc. Nếu có thỏa thuận giải quyết tại nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn thì Tòa án nơi đó sẽ giải quyết.
Thủ tục ly hôn đơn phương có yếu tố nước ngoài
Thủ tuc ly hôn đơn phương có yếu tố nước ngoài
Hồ sơ ly hôn gồm có:
  • Đơn khởi kiện ly hôn/đơn xin ly hôn.
  • Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính).
  • Bản sao y sổ hộ khẩu của vợ chồng.
  • Bản sao y chứng minh nhân dân của vợ chồng.
  • Bản sao y giấy khai sinh của con bạn.
  • Tài liệu, chứng cứ chứng minh cho căn cứ ly hôn.

Trình tự thủ tục ly hôn đơn phương có yếu tố nước ngoài như thế nào?

Tại Phần thứ hai, thứ tám Bộ luật tố tụng dân sự 2014, tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương như sau:
  • Bước 1: Nộp hồ sơ khởi kiện tại TAND cấp có thẩm quyền.
  • Bước 2: Trong 5 ngày làm việc, từ ngày được phân công thì Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và ra quyết định. Khi thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì thông báo cho người khởi kiện để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí.
  • Bước 3: Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.
  • Bước 4: Tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên. Khi vợ hoặc chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì không tiến hành hòa giải được. Nếu hòa giải thành, Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
  • Bước 5: Nếu hòa giải thành, Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Nếu không thành thì ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tiến hành mở phiên tòa để tuyên án.

Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Người Mẹ Trẻ Vứt Con Qua Cửa Sổ: Giết Con Mới Đẻ Hay Xâm Phạm Thi Thể Mồ Mả

Vào tối 18/10 vừa qua, tại sân chung cư HH Linh Đàm, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Người dân đã vô cùng bàng hoàng và phẫn nộ trước việc một bé sơ sinh bị ném từ tầng 31 của chung cư Linh Đàm (Hà Nội) xuống đất. Cơ quan chức năng nhanh chóng xác định mẹ bé sơ sinh là Đinh Thị V.A (SN 1997, quê tỉnh Quảng Bình). Quá trình đấu tranh tại cơ quan công an, Đinh Thị V.A thừa nhận vừa sinh con, tuy nhiên cháu bé sau khi sinh bị tử vong nên V.A đã bỏ con vào túi rác và vứt xuống đất qua cửa sổ nhà vệ sinh.
Nữ sinh ném con ở chung cư Linh Đàm phạm tội gì
Nữ sinh ném con ở chung cư Linh Đàm sẽ chịu tội danh nào?

Hành vi của người mẹ trẻ này bị quy tội giết con mới đẻ hay xâm phạm thi thể mồ mả?

Thứ nhất, Có rất nhiều quan điểm cho rằng: Do nạn nhân trong vụ việc này là cháu bé sơ sinh chưa quá 7 ngày tuổi nên theo quy định tại Điều 124, BLHS năm 2015 về tội Giết hoặc Vứt bỏ con mới đẻ như sau: “Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; Người mẹ nào do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà vứt bỏ con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi dẫn đến hậu quả đứa trẻ chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.
Thứ hai, Nhiều ý kiến từ các luật sư khác cho rằng hành vi của người
mẹ trẻ này là hành vi xâm phạm thi thể,mồ mả, hài cốt. Bởi lẽ theo lời khai là cháu bé đã chết trước khi V.A thực hiện hành vi của mình.Và mức phạt cao nhất cho người phạm tội này có thể lên đến 7 năm tù giam.

Xác định thời điểm nạn nhân tử vong để áp dụng tội danh

Trường hợp đứa trẻ chết sau khi bị ném xuống đất hay chết trước khi bị ném xuống đất thì xử lý người mẹ này về tội danh gì? Nếu có hành vi này thì đối tượng ném xác con vừa chết xuống dưới sân sẽ bị xử lý về tội xâm phạm thi thể theo quy định tại Khoản 1 Điều 319 bộ luật hình sự 2015, tội danh và hình phạt được quy định như sau: Người nào đào, phá mồ mả, chiếm đoạt những đồ vật để ở trong mộ, trên mộ hoặc có hành vi khác xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Trước khi bị vứt xuống đứa bé còn sống hay đã chết
Đứa bé còn sống hay đã chết trước khi bị mẹ vứt xuống
Theo nguồn tin gần đây nhất  nói về vụ việc này. Ngày 23/10, cơ quan chức năng đã công bố kết quả giám định pháp y. Cụ thể, cháu bé sơ sinh bị ném xuống sân được 1 ngày tuổi, nặng 2,7 kg, giới tính nữ. Trong phổi đã có sự lưu thông không khí, chấn thương vùng đầu, có bầm tụ máu, có phản ứng sống. Cơ quan chức năng xác định, nguyên nhân tử vong của cháu bé là do chấn thương sọ não. Như vậy, Hành vi của người mẹ trẻ là sát hại một đứa trẻ mới sinh chưa quá 07 ngày tuổi có liên quan tới tội giết người hoặc tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ.
Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ được hiểu là trường hợp người mẹ phạm tội do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng lạc hậu hoặc trong hoàn cảnh khách quan đặc biệt mà giết hoặc vứt bỏ con do mình đẻ ra trong 07 ngày tuổi. Người phạm tội này thường là những người mẹ ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số; Những nhóm người lạc hậu do phong tục, tập quán cổ hủ tin vào ma tà hoặc do rơi vào tình trạng quẫn bách mà không còn cách nào khác buộc phải thực hiện. Tuy nhiên V.A, người mẹ vứt bỏ con mới đẻ là một sinh viên, một người có học thức, có văn hóa, ở giữa thủ đô, không bị bất cứ phong tục tập quán hay hoàn cảnh khách quan nào can thiệp đến mức phải vứt bỏ con mình. Bởi vậy, trong vụ việc này rất khó có thể áp dụng tội vứt bỏ con mới đẻ theo điều 124 Bộ luật hình sự 2015 Nên người mẹ có thể bị xử lý về tội Giết người theo Điều 123, BLHS năm 2015 với mức hình phạt cao nhất có thể là tù chung thân hoặc tử hình.


Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Tư vấn pháp luật về thủ tục hồ sơ đăng ký doanh nghiệp

Hiện nay nhu cầu startup đang diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến nhu cầu thành đăng ký thành lập doanh nghiệp cao. Tuy nhiên thủ tục hồ sơ đăng ký doanh nghiệp thì hầu như mọi người vẫn chưa rõ, cụ thể được pháp luật quy định như thế nào. Dưới đây là những quy định cụ thể theo pháp luật về doanh nghiệp hiện hành về thủ tục, trình tự và hồ sơ để đăng ký thành lập một doanh nghiệp.
quy định pháp luật về thủ tục thành lập doanh nghiệp
người dân đang làm thủ tục tiến hành đăng ký doanh nghiệp tại cơ quan nhà nước

Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp gồm những gì?

Hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp là điều kiện cần để cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp.
Theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp được quy định đối với từng loại hình doanh nghiệp khác nhau.
Nhìn chung, để đăng ký thành lập doanh nghiệp, người thành lập doanh nghiệp cần phải chuẩn bị bộ hồ sơ bao gồm các giấy tờ như: (i) Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền quy định; (ii) Danh sách thành viên (đối với công ty hợp danh, công ty TNHH), danh sách cổ đông sáng lập (đối với công ty cổ phần); (iii) Giấy tờ chứng thực cá nhân/tổ chức của chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên, cổ đông sáng lập; (iv) Điều lệ công ty (đối với công ty hợp danh, công ty TNHH, công ty CP).

Trình tự và thủ tục đăng ký doanh nghiệp được quy định như thế nào?

Trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp được quy định cụ thể tại Điều 27 Luật Doanh nghiệp 2014, theo đó, việc đăng ký doanh nghiệp được tiến hành tại cơ quan đăng ký kinh doanh, bao gồm các bước cụ thể sau:
Thứ nhất, nộp hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp
Người thành lập doanh nghiệp nộp đủ hồ sơ đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Luật này tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền (Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh) và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của nội dung hồ sơ.
Quy định này nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật, tính tự giác, tự chịu trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức khi có nhu cầu gia nhập thị trường, đồng thời, việc giảm trách nhiệm thẩm định hồ sơ của cơ quan đăng ký kinh doanh cho phép rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Thứ hai, tiếp nhận hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp
Việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp thực hiện bằng việc cơ quan đăng ký kinh doanh ghi vào sổ hồ sơ tiếp nhận của cơ quan mình, đồng thời trao cho người thành lập Giấy biên nhận về việc nhận hồ sơ hợp lệ.
Thứ ba, xem xét tính hợp lệ hồ sơ đăng ký và cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.
Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ; nếu từ chối cấp Giấy thì thông báo bằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp biết. Thông báo phải nêu rõ lý do và các yêu cầu sửa đổi, bổ sung.
Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; không được yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp thêm các giấy tờ khác không quy định tại Luật này.
thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp
tiến hành đăng ký doanh nghiệp tại cơ quan nhà nước.

Thời gian hoàn thành hồ sơ và thủ tục đăng ký doanh nghiệp bao lâu?

Luật Doanh nghiệp 2014 quy định thời gian xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp còn tối đa 3 ngày làm việc. Cụ thể hóa quy định nêu trên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã phối hợp với Bộ Tài chính để ban hành Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-BKHĐT-BTC hướng dẫn việc trao đổi thông tin đăng ký doanh nghiệp, thông tin về tình hình hoạt động của doanh nghiệp và thông tin về báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Theo đó, hệ thống đăng ký thuế tự động tạo mã số thuế mà không cần sự kiểm tra, xem xét của cán bộ đăng ký thuế.


Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018

Tòa Án Quân Sự Xét Xử Những Vụ Án Nào?

Tòa án là cơ quan duy nhất của cả nước đảm nhiệm chức năng xét xử, không ai có thể buộc tội mà không qua xét xử của Tòa án và kết quả xét xử phải được công bố bằng bản án”. Pháp luật nước ta chia cơ quan xét xử Tòa án gồm Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự; Mỗi Tòa án có thẩm quyền xét xử riêng. Bàì viết này, chuyentuvanphapluat.com sẽ giới thiệu đến cho bạn đọc về quy định Tòa án quân sự. 
Quy định pháp luật về những vụ án tòa án quân sự xét xử
Pháp luật quy định những vụ án tòa án quân sự xét xử

Toà án quân sự là gì?

Tòa án quân sự là những tòa án thuộc hệ thống Tòa án nhân dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được tổ chức và đảm nhiệm công tác xét xử hình sự trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Hệ thống các tòa án quân sự có 3 cấp: Tòa án quân sự trung ương; các Tòa án quân sự quân khu và tương đương; Tòa án quân sự khu vực.
Hoạt động xét xử của các Tòa án quân sự chịu sự giám đốc xét xử của Tòa án nhân dân tối cao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thẩm quyền xét xử vụ án hình sự của Tòa án quân sự được quy định như thế nào?

Thẩm quyền xét xử vụ án hình sự của Tòa án quân sự được quy định tại Điều 272 Bộ luật tố ụng hình sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018). Cụ thể như sau:
Một là, Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử các Vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân;
Vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ.

Thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự được pháp luật quy định
Hai là, Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử tất cả tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết quân luật.
Như vậy, có thể thấy, Tòa án nhân dân có thẩm quyền rộng hơn, xét xử hầu hết các đối tượng phạm tội, trừ những đối tượng thuộc thẩm quyền của Tòa án quân sự đã được quy định trong Pháp lệnh tổ chức Tòa án quân sự 2002 cũng như quy định nêu trên. Đồng thời, ngay trong thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự cũng có sự phân biệt thẩm quyền theo đối tượng. Cấp bậc, chức vụ của quân nhân chính là căn cứ để xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự các cấp.

Phân định thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự và Tòa án nhân dân

Theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định rõ ràng về việc phân định thẩm quyền xét xử của Tòa án trong trường hợp bị cáo vừa phạm tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân, vừa phạm tội thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Theo đó, trường hợp có thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự; Tòa án nhân dân xét xử những bị cáo và tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân; trường hợp không thể tách vụ án thì Tòa án quân sự xét xử toàn bộ vụ án.


Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Diễn Viên Điện Ảnh Có Bị Hạn Chế Hút Thuốc Lá Khi Quay Phim?

Theo Thông tư 25/2018/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch có hiệu lực kể từ ngày 15/11/2018 quy định về việc hạn chế hình ảnh diễn viên sử dụng thuốc lá trong tác phẩm sân khấu, điện ảnh. Thông tư trên căn cứ Luật Phòng chống tác hại thuốc lá năm 2012, Luật Điện ảnh 2006 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh năm 2009 và các nghị định liên quan khác. Như vậy, quy định pháp luật về việc hạn chế diễn viên hút thuốc lá cụ thể như thế nào?
Quy định hạn chế sử dụng hình ảnh diễn viên hút thuốc lá trong phim
Việc hạn chế sử dụng hình ảnh diễn viên hút thuốc lá trong phim

Cấm diễn viên hút thuốc lá trên phim ảnh trong trường hợp nào?

Quy định tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư 25/2018/TT-BVHTTDL thì về nguyên hạn chế hình ảnh diễn viên sử dụng thuốc lá trong phim. Theo đó, không sử dụng hình ảnh diễn viên sử dụng thuốc lá trong các trường hợp sau đây:
  • Thể hiện hành vi bị nghiêm cấm theo quy định và hành vi vi phạm nghĩa vụ của người hút thuốc lá quy định tại Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, trừ trường hợp nhằm phê phán, lên án các hành vi này;
  • Ca ngợi tổ chức, cá nhân thành công từ sản xuất, kinh doanh thuốc lá;
  • Thể hiện trong tác phẩm sân khấu, điện ảnh dành cho trẻ em;
  • Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, diễn viên được sử dụng thuốc lá trong những phân cảnh nhằm mục đích nghệ thuật được pháp luật quy định.

Trường hợp nào diễn viên điện ảnh sử dụng thuốc lá nhằm mục đích nghệ thuật khi quay phim?

Tại Điều 5 Thông tư 25/2018/TT-BVHTTDL quy định diễn viên điện ảnh được sử dụng thuốc lá nhằm mục đích nghệ thuật khi quay phim trong các trường hợp sau đây:
  • Khắc họa hình tượng nhân vật lịch sử có thật;
  • Tái hiện một giai đoạn lịch sử nhất định;
  • Phê phán, lên án hành vi sử dụng thuốc lá;
  • Các trường hợp nhằm mục đích nghệ thuật khác được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trên cơ sở đề nghị của Hội đồng thẩm định.
Quy định về ngoại lệ diễn viên được hút thuốc vì mục đích nghệ thuật
Trường hợp diễn viên hút thuốc vì mục đích nghệ thuật trong phim
Theo đó, trường hợp phim có nhiều cảnh diễn viên sử dụng thuốc lá theo đánh giá của Hội đồng thẩm định thì việc phổ biến phim phải bảo đảm một trong các yêu cầu sau đây:
Một là, được phân loại để phổ biến theo lứa tuổi phù hợp. Việc phân loại phim dựa vào các tiêu chí tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này;
Hai là, có cảnh báo sức khỏe về tác hại của thuốc lá bằng chữ hoặc hình ảnh.

Phân loại hạn chế độ tuổi đối với phim có hình ảnh diễn viên hút thuốc lá như thế nào?

Tiêu chí phân loại phim theo độ tuổi khi hạn chế hình ảnh diễn viên hút thuốc lá được ban hành kèm theo Thông tư 25/2018/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch. Theo đó, phân thành những loại phim sau đây:
Một là, Phim P – Phim được phép phổ biến rộng rãi đến mọi đối tượng – Không chấp nhận hình ảnh diễn viên sử dụng thuốc lá trừ trường hợp nhằm phê phán, lên án hành vi này hoặc các trường hợp nhằm mục đích nghệ thuật nhưng không miêu tả chi tiết, diễn ra ít, thời lượng rất ngắn.
Hai là, Phim C13 – Phim cấm phổ biến đến khán giả ở lứa tuổi dưới 13 – Không chấp nhận hình ảnh diễn viên sử dụng thuốc lá trừ trường hợp nhằm phê phán, lên án hành vi này hoặc các trường hợp nhằm mục đích nghệ thuật, nhưng không miêu tả chi tiết, mức độ diễn ra hợp lý, thời lượng ngắn.
Ba là, Phim C16 – Phim cấm phổ biến đến khán giả ở lứa tuổi dưới 16 – Không chấp nhận hình ảnh diễn viên sử dụng thuốc lá trừ trường hợp nhằm phê phán, lên án hành vi này hoặc các trường hợp nhằm mục đích nghệ thuật, nhưng không miêu tả chi tiết, mức độ diễn ra không thường xuyên, thời lượng hợp lý.
Bốn là, Phim C18 – Phim cấm phổ biến đến khán giả ở lứa tuổi dưới 18 – Không chấp nhận hình ảnh diễn viên sử dụng thuốc lá, trừ trường hợp nhằm phê phán, lên án hành vi này hoặc các trường hợp nhằm mục đích nghệ thuật, mức độ diễn ra và thời lượng phù hợp với nội dung phim.
Hiện nay, nhiều phim điện ảnh Việt khai thác những đề tài gai góc hướng đến những góc khuất của xã hội bởi vậy việc sử dụng những cảnh diễn viên sử dụng thuốc lá để bộc lộ bản chất cũng như khắc hoạ tính cách nhân vật cũng là điều khó tránh khỏi. Do đó, những quy định trên là cần thiết, bởi phim ảnh cũng phần nào là công cụ truyền đạt lối sống. Việc có định hướng rõ ràng về vấn đề hút thuốc cũng sẽ giúp truyền đạt lối sống tích cực hơn.


 Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Thẻ Kiểm Tra Thị Trường Là Gì?

Thẻ kiểm tra thị trường là thẻ được công chức Quản lý thị trường sử dụng để thực hiện thẩm quyền ban hành quyết định kiểm tra, thực hiện hoạt động kiểm tra việc chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân trong trong kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thương mại theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Pháp lệnh Quản lý thị trường số 11/2016/UBTVQH13 và khoản 1 Điều 3 Thông tư 33/2018/TT-BTC.
Quy định về mẫu thẻ kiểm tra thị trường
Mẫu thẻ kiểm tra thị trường như thế nào?

Thẻ kiểm tra thị trường có mẫu như thế nào và thời hạn sử dụng là bao lâu?

Thứ nhất, về mẫu thẻ kiểm tra thị trường, theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư 33/2018/TT-BTC thì thẻ có hình chữ nhật bằng giấy, kích thước 90mm x 62mm, gồm 02 (hai) mặt, có ép lớp nhựa bảo vệ bên ngoài.
Theo đó, người có thẩm quyền cấp Thẻ kiểm tra thị trường phải thực hiện xong việc cấp lại Thẻ theo mẫu mới trước ngày 30/12/2019. Cục trưởng Cục quản lý thị trường cấp tỉnh, Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Tổng cục Quản lý thị trường gửi hồ sơ đề nghị cấp lại Thẻ mới cho công chức thuộc đơn vị mình quản lý về Tổng cục Quản lý thị trường.
Trong thời gian chờ cấp lại Thẻ theo mẫu mới, thẻ cũ vẫn được tiếp tục sử dụng theo thời hạn ghi trên Thẻ nhưng không quá ngày 30/12/2019 và phải được thu hồi theo quy định.
Thứ hai, theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Pháp lệnh Quản lý thị trường thì thời hạn sử dụng của thẻ kiểm tra thị trường là 05 năm kể từ ngày được cấp thẻ kiểm tra thị trường và được ghi trên thẻ kiểm tra thị trường.
Sử dụng thẻ kiểm tra thị trường bao lâu?
Thời hạn sử dụng thẻ kiểm tra thị trường

Ai có thẩm quyền cấp, cấp lại, thu hồi, tạm đình chỉ thẻ kiểm tra thị trường?

Theo quy định tại Điều 16 Pháp lệnh Quản lý thị trường, căn cứ vào chức vụ của chủ thể được cấp thẻ kiểm tra thị trường, có 2 chủ thể có thẩm quyền cấp, cấp lại, thu hồi, tạm đình chỉ thẻ kiểm tra thị trường:
  • Thứ nhất, Bộ trưởng Bộ Công thương có thẩm quyền cấp, cấp lại, thu hồi, tạm đình chỉ sử dụng thẻ kiểm tra thị trường đối với người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan Quản lý thị trường ở trung ương.
  • Thứ hai, người đứng đầu cơ quan Quản lý thị trường ở trung ương có thẩm quyền cấp, cấp lại, thu hồi, tạm đình chỉ sử dụng thẻ kiểm tra thị trường đối với công chức của lực lượng Quản lý thị trường, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ công thương. Bên cạnh đó, người đứng đầu cơ quan Quản lý thị trường ở trung ương có thể ủy quyền cho người đứng đầu cơ quan Quản lý thị trường cấp dưới trực tiếp thu hồi, tạm đình chỉ sử dụng thẻ kiểm tra thị trường đối với công chức của lực lượng Quản lý thị trường thuộc quyền quản lý.
Ngoài ra, người đứng đầu cơ quan Quản lý thị trường các cấp, Trưởng đoàn kiểm tra nội bộ có quyền kiến nghị cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi, tạm đình chỉ sử dụng thẻ kiểm tra thị trường nếu phát hiện có hành vi vi phạm của công chức quản lý thị trường.

Những trường hợp nào được cấp, cấp lại, bị thu hồi, tạm đình chỉ thẻ kiểm tra thị trường?

Theo quy định tại Điều 13 Pháp lệnh Quản lý thị trường, có hai trường hợp cấp lần đầu thẻ kiểm tra thị trường:
  • Thứ nhất, người được bổ nhiệm vào một trong các ngạch công chức chuyên ngành Quản lý thị trường: Kiểm soát viên cao cấp thị trường; Kiểm soát viên chính thị trường; Kiểm soát viên thị trường. Và đáp ứng hai điều kiện: đã được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công thương; không trong thời gian bị thi hành kỷ luật.
  • Thứ hai, công chức được bổ nhiệm giữ chức vụ là người đứng đầu cơ quan Quản lý thị trường có thẩm quyền ban hành quyết định kiểm tra.
Thẩm quyền cấp thẻ kiểm tra thị trường
Trường hợp được cấp thẻ kiểm tra thị trường
Về trường hợp cấp lại thẻ kiểm tra thị trường, theo quy định tại Điều 14 Pháp lệnh Quản lý thị trường thì có bốn trường hợp:
  • Một là, thay đổi thông tin ghi trên thẻ kiểm tra thị trường.
  • Hai là, thẻ kiểm tra thị trường bị mất, hư hỏng không sử dụng được.
  • Ba là, hết thời hạn sử dụng ghi trên thẻ kiểm tra thị trường và đáp ứng hai điều kiện: đã được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công thương; không trong thời gian bị thi hành kỷ luật.
  • Cuối cùng là, hết 12 tháng kể từ khi kết thúc thời gian bị thi hành kỷ luật hạ bậc lương, giáng chức, cách chức và đáp ứng hai điều kiện: đã được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công thương; không trong thời gian bị thi hành kỷ luật.
Đối với trường hợp thu hồi thẻ kiểm tra thị trường, khoản 1 Điều 15 Pháp lệnh Quản lý thị trường quy định có bốn trường hợp:
  • Khi phát hiện công chức không đáp ứng đủ hai điều kiện: đã được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Công thương; không trong thời gian bị thi hành kỷ luật tại thời điểm cấp thẻ.
  • Chuyển công tác sang cơ quan, đơn vị khác hoặc nghỉ hưu, thôi việc; từ trần khi đang trong thời gian công tác.
  • Bị Tòa án kết án bằng bản án hình sự có hiệu lực pháp luật hoặc bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc.
  • Mất năng lực hành vi dân sự.
Theo khoản 2 Điều 15 Pháp lệnh Quản lý thị trường quy định có năm trường hợp tạm đình chỉ thẻ kiểm tra thị trường:
  • Có hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động công vụ theo quy định của pháp luật mà chưa có quyết định xử lý.
  • Tham mưu, ban hành quyết định trái pháp luật, không thực hiện đúng quy định của pháp luật về kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính từ hai lần trở lên nhưng chưa đến mức xử lý kỷ luật.
  • Đang trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác để xem xét xử lý kỷ luật.
  • Bị xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo.
  • Bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam.

 Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Hợp Đồng Xây Dựng Là Gì?

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hợp đồng xây dựng đóng vai trò là một văn bản vô cùng quan trọng cho các bên trước khi tiến hành khởi công các công trình xây dựng, cũng như là bước đầu tiên để các bên ngồi lại bàn bạc với nhau về quyền và lợi ích của mình trong hợp đồng đó. Sau đây là những điều cần phải biết về khái niệm hợp đồng xây dựng? Khái niệm hợp đồng xây dựng là gì? Đặc điểm của hợp đồng xây dựng?
Mẫu hợp đồng xây dựng
Nội dung cần có trong hợp đồng xây dựng theo quy định của pháp luật

Hợp đồng xây dựng là gì?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định 37/2015/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết Luật xây dựng, thì “ hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng”
Hợp đồng xây dựng là một loại hợp đồng dân sự, do vậy cũng là sự thỏa thuận giữa các bên về xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các bên, nhưng là trong hoạt động đầu tư xây dựng.

Đặc điểm của hợp đồng xây dựng là gì?

Hợp đồng xây dựng mang những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự. Tuy nhiên về mặt pháp luật chuyên ngành, hợp đồng xây dựng vẫn có một số nét đặc thù sau:
Thứ nhất, về chủ thể: bao gồm bên giao thầu bên nhận thầu
  • Bên giao thầu là chủ đầu tư hoặc đại diện của chủ đầu tư hoặc tổng thầu hoặc nhà thầu chính.
  • Bên nhận thầu là tổng thầu hoặc nhà thầu chính khi bên giao thầu là chủ đầu tư; là nhà thầu phụ khi bên giao thầu là tổng thầu hoặc nhà thầu chính. Bên nhận thầu có thể là liên danh các nhà thầu.
Thứ hai, về hình thức hợp đồng xây dựng được lập thành văn bản và được ký kết bởi người đại diện đúng thẩm quyền theo pháp luật của các bên tham gia hợp đồng. Trường hợp một bên tham gia hợp đồng là tổ chức thì bên đó phải ký tên, đóng dấu theo quy định của pháp luật.
Điều kiện chung của hợp đồng xây dựng là tài liệu kèm theo hợp đồng quy định quyền, nghĩa vụ cơ bản và mối quan hệ của các bên tham gia hợp đồng xây dựng.
Hợp đồng xây dựng có những đặc điểm nào
Đặc điểm của hợp đồng xây dựng theo quy định của pháp luật

Các hình thức hợp đồng xây dựng theo pháp luật?

Các hình thức hợp đồng xây dựng theo quy định tại Điều 3 Nghị định 37/2015/NĐ-CP được phân loại cụ thể như sau:
Thứ nhất, theo tính chất, nội dung công việc hợp đồng xây dựng có các loại sau:
  • Hợp đồng tư vấn xây dựng (viết tắt là hợp đồng tư vấn);
  • Hợp đồng thi công xây dựng công trình( viết tắt là hợp đồng thi công xây dựng);
  • Hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ (viết tắt là hợp đồng cung cấp thiết bị);
  • Hợp đồng thiết kế và thi công xây dựng công trình (tiếng Anh là Engineering – Construction viết tắt là EC);
  • Hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ (tiếng Anh là Engineering – Procurement viết tắt là EP);
  • Hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (tiếng Anh là Procurement – Construction viết tắt là PC);
  • Hợp đồng thiết kế – cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (tiếng Anh là Engineering – Procurement – Construction viết tắt là EPC);
  • Hợp đồng chìa khóa trao tay là hợp đồng xây dựng để thực hiện toàn bộ các công việc lập dự án, thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình của một dự án đầu tư xây dựng;
  • Hợp đồng cung cấp nhân lực, máy và thiết bị thi công là hợp đồng xây dựng để cung cấp kỹ sư, công nhân (gọi chung là nhân lực), máy, thiết bị thi công và các phương tiện cần thiết khác để phục vụ cho việc thi công công trình, hạng mục công trình, gói thầu hoặc công việc xây dựng theo thiết kế xây dựng;
  • Các loại hợp đồng xây dựng khác.
Hợp đồng xây dựng có những hình thức nào?
Các hình thức của hợp đồng xây dựng theo pháp luật
Thứ hai, theo hình thức giá hợp đồng, hợp đồng xây dựng có các loại sau:
  • Hợp đồng trọn gói;
  • Hợp đồng theo đơn giá cố định;
  • Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh;
  • Hợp đồng theo thời gian;
  • Hợp đồng theo giá kết hợp là hợp đồng xây dựng sử dụng kết hợp các loại giá hợp đồng nêu từ Điểm a đến Điểm d Khoản này.
Thứ ba, theo mối quan hệ của các bên tham gia trong hợp đồng, hợp đồng xây dựng có các loại sau:
  • Hợp đồng thầu chính là hợp đồng xây dựng được ký kết giữa chủ đầu tư với nhà thầu chính hoặc tổng thầu.
  • Hợp đồng thầu phụ là hợp đồng xây dựng được ký kết giữa nhà thầu chính hoặc tổng thầu với nhà thầu phụ.
  • Hợp đồng giao khoán nội bộ là hợp đồng giữa bên giao thầu và bên nhận thầu thuộc một cơ quan, tổ chức.
  • Hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài là hợp đồng xây dựng được ký kết giữa một bên là nhà thầu nước ngoài với nhà thầu trong nước hoặc chủ đầu tư trong nước.

Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Chủ Nhật, 28 tháng 10, 2018

Khi Tranh Chấp Đất Đai Kiện Ở Đâu

Tranh chấp đất đai ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất phức tạp. Khi xảy ra tranh chấp đất đai, chúng ta có thể giải quyết bằng các con đường khác nhau như tự hòa giải, hòa giải tại xã, giải quyết tranh chấp đất đai theo thủ tục hành chính và cuối cùng là khởi kiện tại tòa án có thẩm quyền. Vậy khi có tranh chấp đất đai thì nên kiện ở tòa án nào đúng quy định, có bắt buộc phải tuân thủ điều kiện gì không?
Khởi kiện tranh chấp đất đai
Tranh chấp đất đai thì kiện ở đâu

Xác định thẩm quyền của tòa án khi có khởi kiện tranh chấp đất đai

Đầu tiên, cần xác định tranh chấp đất đai thuộc thẩm quyền của tòa án cấp nào theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:
  • Nếu tranh chấp không có yếu tố nước ngoài thì thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện, thị xã, thành phố thuộc Tỉnh.
  • Nếu tranh chấp có yếu tố nước ngoài thì thuộc thẩm quyền Tòa án nhân dân cấp Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Sau khi đã xác định được cấp của tòa án, bước tiếp theo cần xác định thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ của tòa án. Cụ thể, đối với tranh chấp đất đai chỉ Tòa án nơi có bất động sản ( đất đai tranh chấp) mới có thẩm quyền giải quyết.

Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai khi khởi kiện tại tòa án được tiến hành như thế nào?

Việc giải quyết tranh chấp đất đai tại Tòa án được thực hiện theo quy định chung tại Bộ luật tố tụng dân sự. Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền như trên.
  • Bước 1: Người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ đến Tòa án có thẩm quyền, thực hiện việc tạm ứng án phí và hoàn chỉnh hồ sơ, đơn khởi kiện theo yêu cầu của Tòa án.
  • Bước 2: Tòa án đã thụ lý vụ án, tiến hành hòa giải. Đây là giai đoạn bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự do Tòa án chủ trì và tiến hành. Nếu hòa giải thành thì Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành, hết 07 ngày mà các bên đương sự không thay đổi ý kiến thì tranh chấp chính thức kết thúc.
  • Bước 3: Đưa vụ án ra xét xử. Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử theo thủ tục xét xử sơ thẩm và ra bản án hoặc quyết định.

Quy định về cấp xét xử khi khởi kiện tranh chấp đất đai tại tòa án

Theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự 2015, Có 03 cấp xét xử khi giải quyết tranh chấp đất đai là cấp xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cấp đặc biệt( giảm đốc thẩm và tái thẩm). Cụ thể:
Sau khi xét xử sơ thẩm Tòa án tiến hành ra bản án hoặc quyết định. Bản án hoặc quyết định của tòa án cấp xét xử sơ thẩm vẫn chưa có hiệu lực pháp luật ngay. Nếu không đồng ý các bên vẫn có quyền kháng cáo theo trình tự phúc thẩm tại tòa án cấp tỉnh hoặc tòa án cấp cao. Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án hoặc quyết định của tòa án ở cấp phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay bắt buộc các đương sự phải chấp hành. Tuy nhiên, bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm dù đã có hiệu lực nhưng vẫn có cấp xét xử đăc biệt để xem xét lại bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới đó là thủ tục giám đốc thẩm hoặc thủ tục tái thẩm.
Khởi kiện tranh chấp đất đai ra tòa án
Khởi kiện tranh chấp đất đai tại Tòa án
Theo quy đinh của Điều 326 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
  • Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;
  • Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;
  • Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.
Còn đối với thủ tục tái thẩm thì Những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là:
  • Có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật;
  • Có tình tiết mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án;
  • Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật;
  • Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.
Thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm giải quyết tranh chấp đất đai được tiến hành tại Tòa án nhân dân cấp cao và tòa án nhân dân tối cao.


 Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Thứ Năm, 25 tháng 10, 2018

Phán Quyết Trọng Tài Có Giá Trị Bằng Bản Án Của Tòa Án Không?

Pháp luật nước ta luôn tôn trọng sự thỏa thuận của các bên, kể cả thỏa thuận giải quyết tranh chấp liên quan tới việc chọn Trọng tài thương mại hay Tòa án giải quyết. Miễn sao những thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luât, không trái đạo đức xã hội. Khi đó mọi cam kết, thỏa thuận sẽ có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được các chủ thể khác tôn trọng.
Phán quyết trọng tài theo quy định pháp luật
Khái quát về phán quyết trọng tài theo quy định pháp luật

Phán quyết trọng tài là gì?

Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài. Vấn đề thi hành phán quyết của Trọng tài thương mại (TTTM) được quy định tại Chương X Luật TTTM năm 2010; Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 (Luật THADS) và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật THADS và Điều 67 Luật TTTM năm 2010 thì phán quyết trọng tài (PQTT) được thi hành theo quy định của pháp luật về THADS và thẩm quyền thi hành phán quyết, quyết định của TTTM thuộc về cơ quan THADS.

Hiệu lực của phán quyết trọng tài được pháp luật quy định như thế nào?

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 60 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định: “Phán quyết trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành“. Phán quyết của trọng tài là chung thẩm nên tranh chấp đã được giải quyết sẽ không được xem xét lại bởi bất kỳ một cấp hoặc cơ quan xét xử nào khác (trừ trường hợp hủy phán quyết trọng tai theo quy định pháp luật). Phán quyết trọng tài có hiệu lực kể từ ngày ban hành, tuy nhiên do phán quyết trọng tài quy định thời hạn thi hành phán quyết, nên bên được thi hành phán quyết trọng tài chỉ được yêu cầu cưỡng chế thi hành phán quyết đó sau khi thời hạn thi hành phán quyết kết thúc mà bên bị thi hành không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ.
Vì vậy, khi Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết trọng tài thì các bên không thể kiện tiếp lên tòa án, trừ trường hợp một bên gửi đơn yêu cầu Tòa án xem xét việc hủy phán quyết trọng tài và Tòa án hủy phán quyết trọng tài theo các căn cứ được quy định tại Điều 68 – LTTTM 2010.
Quy định hiệu lực của phán quyết trọng tài
Quy định về hiệu lực của phán quyết trọng tài hiện nay
Bên cạnh đó, vấn đề Tố tụng trọng tài giữa cơ quan Tòa án với trung tâm trọng tài, đã có một số thẩm phán không căn cứ vào điều 415 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (trước đây là điều 341 BLTTDS 2005) quy định : “Thủ tục giải quyết các vụ việc liên quan đến hoạt động của trọng tài thương mại tại Việt Nam được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại Việt Nam” và điều 12 Luật Trọng tài thương mại, mà tư duy theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự dẫn đến huỷ phán quyết trọng tài không đúng.
Hội đồng trọng tài của các vụ việc cụ thể thường gồm các chuyên gia có trình độ chuyên môn cao, nhưng một vài trong số họ có hiểu biết cũng như thực hành tố tụng trọng tài chưa nhiều, ít kinh nghiệm xử lí các tình huống tố tụng nên thường chú trọng nhiều vào phần nội dung tranh chấp mà dẫn đến thiếu sót về tố tụng.
“Các thẩm phán giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, trong nhiều trường hợp, không tiếp xúc nhiều với thực tiễn trọng tài và nội dung lĩnh vực tranh chấp nên đã có những quan điểm khác nhau trong đường lối giải quyết vụ việc trọng tài”.

Tòa án hủy phán quyết trọng tài khi nào?

Theo quy định tại Điểm đ khoản 2 Điều 14 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại đã ghi rõ:
“…Tòa án chỉ hủy phán quyết trọng tài sau khi đã chỉ ra được rằng phán quyết trọng tài có nội dung trái với một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam mà Hội đồng trọng tài đã không thực hiện nguyên tắc này khi ban hành phán quyết trọng tài và phán quyết trọng tài xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của một hoặc các bên, người thứ ba…”
Nói tóm lại, phán quyết trọng tài có giá trị ngang với bản án của tòa án.Tuy nhiên, trọng tài chỉ được lựa chọn trong giải quyết tranh chấp hoạt động thương mại. Còn Tòa án là cơ quan giải quyết trong tất cả các lĩnh vực.


 Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2018

Milo Và Ovaltine – Cuộc Chiến Pháp Lý Về Cạnh Tranh Không Lành Mạnh

Mới đây, cộng đồng mạng chia sẻ 2 pano quảng cáo ngoài trời của 2 thương hiệu đồ uống với nội dung đối lập nhau. Trong khi thương hiệu Nestle Milo đặt slogan “Nhà vô địch làm từ Milo” với tôn màu chủ đạo là xanh lá cây thì bên kia đường thương hiệu sữa Ovaltine với tấm biển quảng cáo màu đỏ có in hình 2 mẹ con chỉ tay sang phía “đối thủ” kèm theo dòng chữ ”Chẳng cần vô địch, chỉ cần con thích”. Vấn đề này rốt cuộc là sao? Mời các bạn theo dõi bài viết.
Cuộc chiến pháp lý không lành mạnh giữa hai thương hiệu đồ uống
Tìm hiểu cuộc chiến pháp lý giữa hai thương hiệu đồ uống

Cạnh tranh quảng cáo Milo Và Ovaltine có lành mạnh không?

Nestle Việt Nam đã có công văn gửi Cục Văn hóa cơ sở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng Bộ Công Thương để đề nghị xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm luật quảng cáo. Đối tượng mà Nestle “tố” là Công ty Frieslandcampina, đơn vị sở hữu thương hiệu Ovaltine và đang thực hiện chiến dịch truyền thông cho Ovaltine.
Với nội dung công văn phía Nestle ghi rõ là Ovaltine và Milo là đối thủ trực tiếp trong cùng ngành hàng, và với việc thực hiện Ovaltine Campaigne, Friesland Campina không chỉ sao chép trái phép ý tưởng của chúng tôi mà còn gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng bằng việc đánh đồng các thông điệp của Chiến dịch Milo với “bệnh thành tích,
Trong vụ việc này, Công ty Nestlé Việt Nam (sở hữu thương hiệu sản phẩm Milo) cho rằng FrieslandCampina (sở hữu thương hiệu sản phẩm Ovaltine) vi phạm luật ở 2 khía cạnh Luật Cạnh tranh và Luật Quảng cáo.
Cụ thể, Nestlé “tố” FrieslandCampina vi phạm quyền tác giả của mình, khi có rất nhiều yếu tố trong chiến dịch của Ovaltine lấy ý tưởng từ các sản phẩm thương mại của chiến dịch Milo. Sự sao chép này bao gồm việc sử dụng thông điệp “nhà vô địch”, hình nền trong các ảnh, tư thế chụp hình, các môn thể thao được lựa chọn để làm hình/clip và một số các câu nói khác.

Milo có cơ sở pháp lý để tố Ovaltine cạnh tranh không lành mạnh không?

Hành vi cạnh tranh không lành mạnh được quy định tại Điều 45 Luật Cạnh tranh 2004, theo đó cấm ba dạng hành vi: quảng cáo so sánh, quảng cáo bắt chước và quảng cáo gây nhầm lẫn. Đây là ba dạng hành vi có bản chất cạnh tranh không lành mạnh khác nhau, mặc dù cùng thể hiện qua một hoạt động thị trường quen thuộc đó là quảng cáo.
Thứ nhất, Khoản 1 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định cấm doanh nghiệp thực hiện hoạt động quảng cáo: “So sánh trực tiếp hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác”. Bản chất của hành vi quảng cáo so sánh trực tiếp được biểu hiện thông qua việc cố ý đưa vào các sản phẩm quảng cáo của doanh nghiệp mình các thông tin mang tính chất so sánh trực tiếp giữa hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác theo hướng có lợi cho doanh nghiệp mình. Ovaltine không có hành vi này.
Thứ hai, Khoản 2 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2004 quy định về quảng cáo bắt thì cấm doanh nghiệp bắt chước một sản phẩm quảng cáo khác để gây nhầm lẫn cho khách hàng.
Việc tố Ovaltine cạnh tranh không lành mạnh
Tìm hiểu việc tố Ovaltine cạnh tranh không lành mạnh
Ở chiến dịch quảng cáo của mình, thương hiệu Ovaltine chỉ đưa ra những câu khẩu hiệu mang tính chất đối xứng hoặc đối sánh với nhau chứ không hề đưa một thông điệp có tính chất tương tự, hay một sản phẩm có nhiều điểm chung  nên theo đó, nếu đối chiếu vào quy định của luật cạnh tranh thì đây không phải là hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Tất cả những thông điệp của Ovaltine hoàn toàn do người ta sáng tạo dựa trên góc độ truyền thông và họ không có bất kỳ thông tin nào mang tính chất đả kích, hạ thấp đối thủ hoặc đưa ra những thông tin sai sự thật về sản phẩm của Milo. Chuyện giáo dục con theo phương pháp nào thì mỗi người có quan điểm riêng, có người ủng hộ Ovaltine nhưng cũng có người thích cách của Milo.
Thứ ba, Khoản 3 Điều 45 Luật Cạnh tranh năm 2004 đã liệt kê tương đối nhiều nội dung quảng cáo có thể gian dối hoặc gây nhầm lẫn như: Gian dối, gây nhầm lẫn về sản phẩm hàng hóa, dịch vụ: bao gồm cả giá cả, chất lượng, đặc điểm,… Thương hiệu Ovaltine chỉ đưa ra những câu khẩu hiệu mang tính chất đối xứng hoặc đối sánh với nhau chứ không tạo nên sự hiểu nhầm về thương hiệu, giá cả, hàng hóa, dịch vụ. Đồng thời, việc treo biển bảng quản lý của đối thủ cạnh tranh đối xứng nhau hoàn toàn không mang tính chất vi phạm. Luật không cấm hai đối thủ cạnh tranh treo bảng biển gần nhau.
Xét về từng hành vi cạnh tranh không lành mạnh được phân tích như trên thì Ovaltine không có hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh.

Ovaltine có xâm phạm quyền tác giả hay không?

Nestlé (Milo) cho rằng chiến dịch Ovaltine sao chép trái phép ý tưởng dưới góc độ xâm phạm quyền tác giả theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên ý tưởng không phải là đối tượng được bảo hộ, mà chỉ bảo hộ tác phẩm, đối tượng sở hữu trí tuệ cụ thể như tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan; nhãn hiệu… Do đó, Nestlé cho rằng chiến dịch Ovaltine sao chép trái phép ý tưởng thì khả năng chứng minh việc xâm phạm này rất khó.
Như vậy, dưới góc độ Luật cạnh tranh hay Luật quảng cáo thì Nestlé Milo khó mà chứng minh được Ovaltine vi phạm. Tuy nhiên, nếu quan điểm của Milo thấy rằng đây là hành vi không lành mạnh thì việc họ khởi kiện hoặc có quyền yêu cầu phía đối thủ thay đổi quảng cáo cũng là cần thiết.


 Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Lộ Trình Miễn, Giảm Học Phí Phổ Thông Theo Dự Thảo Luật Giáo Dục (Sửa Đổi) Như Thế Nào?

Chính sách mới trong lĩnh vực giáo dục đã được Chính phủ đề xuất tại Tờ trình về sửa đổi Luật Giáo dục, được trình bày, xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp sáng ngày 12/9/2018. Đó là không thu học phí đối với trẻ em mầm non 5 tuổi, học sinh trung học cơ sở trường công lập, hỗ trợ đóng học phí cơ sở ngoài công lập đối với trẻ em, học sinh diện phổ cập. Như vậy, lộ trình miễn, giảm học phí phổ thông sẽ như thế nào?
Dự thảo luật giáo dục quy định về miễn giảm học phí
Dự thảo luật giáo dục 2018 quy định về miễn giảm học phí

Dự thảo luật giáo dục 2018 về mức thu học phí trung học cơ sở ra sao?

Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 86/2015/NĐ-CP quy định về cơ chế thu, quản lý học phí đối với cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và chính sách miễn, giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2015 – 2016 đến năm học 2020 – 2021. Theo đó, khung học phí cơ bản đối với giáo dục mầm non và phổ thông như sau:
  • Ở vùng thành thị từ 60.000 – 300.000 đồng/tháng/học sinh.
  • Ở vùng nông thôn từ 30.000 – 120.000 đồng/tháng/học sinh.
  • Ở miền núi từ 8.000 – 60.000 đồng/tháng/học sinh.
Từ năm học 2016 – 2017 trở đi, học phí được điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng tăng bình quân hàng năm do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thông báo.
Căn cứ quy định trên, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định mức học phí cụ thể hàng năm phù hợp với thực tế của các vùng trên địa bàn của mình.

Không thu học phí trẻ mầm non 5 tuổi, học sinh THCS như thế nào?

Theo dự thảo sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 105 về học phí. Theo đó, học phí là khoản tiền người học phải nộp để chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí của dịch vụ giáo dục, đào tạo. Mức thu học phí được xác định theo lộ trình tính đúng, tính đủ chi phí dịch vụ giáo dục, đào tạo do Chính phủ quy định.
Trẻ em mầm non năm tuổi, học sinh tiểu học, trung học cơ sở trường công lập không phải nộp học phí. Cơ sở giáo dục mầm non, trường tiểu học, trung học cơ sở công lập được Nhà nước bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất và kinh phí hoạt động để thực hiện phổ cập giáo dục.
Không thu học phí theo dự thảo luật giáo dục
Tìm hiểu quy định về việc không thu học phí theo dự thảo luật giáo dục
Trẻ em mầm non năm tuổi cơ sở giáo dục dân lập, tư thục; học sinh tiểu học, trung học cơ sở trường tư thục được Nhà nước hỗ trợ tiền đóng học phí cho cơ sở giáo dục dân lập, tư thục. Mức hỗ trợ do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định tương đương mức ngân sách cấp chi thường xuyên tính bình quân trên một học sinh của cơ sở giáo dục công lập cùng cấp trên địa bàn.
Chính phủ quy định lộ trình thực hiện việc không thu học phí đối với trẻ em mầm non năm tuổi, học sinh tiểu học, trung học cơ sở trường công lập; hỗ trợ tiền đóng học phí cho trẻ em mầm non năm tuổi cơ sở giáo dục dân lập, tư thục, học sinh tiểu học, trung học cơ sở trường tư thục.

Chính phủ đồng ý miễn học phí quy định như thế nào?

Theo Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9-2016 vừa được Văn phòng Chính phủ công bố. Trong đó nêu rõ nội dung về việc Chính phủ chỉ đạo xây dựng lộ trình miễn học phí phổ thông. Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng báo cáo trình Trung ương và Quốc hội về miễn học phí đối với giáo dục mầm non cho trẻ năm tuổi là người dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và học sinh trung học cơ sở theo lộ trình đến năm 2020.


 Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.