Chuyển đến nội dung chính

Làm gì khi thời hiệu khởi kiện đã hết?

        Làm gì khi thời hiệu khởi kiện đã hết là vấn đề mà nhiều người luôn thắc mắc khi xảy ra tranh chấp. Nếu gặp phải vấn đề này, trước tiên các bạn hãy kiểm tra tranh chấp của mình có tính thời gian vào thời hiệu khởi kiện hoặc có rơi vào trường hợp khôi phục thời hiệu khởi kiện hay không. Vì trên thực tế cũng có trường hợp vụ án được giải quyết khi hết thời hiệu khởi kiện. Sau đây Thạc sĩ – Luật sư Phan Mạnh Thăng xin cung cấp nội dung chi tiết về vấn đề trên.

Thời hiệu khởi kiện đã hết cần làm gì?

Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là gì?

        Theo quy định tại Khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
        Như vậy, với quy định trên thì người khởi kiện có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết vụ án trong một thời hạn nhất định được gọi là thời hiệu khởi kiện. Thời hiệu khởi kiện của từng loại tranh chấp được quy định cụ thể tại Bộ luật Dân sự 2015. Hết thời hiệu khởi kiện thì các chủ thể trong tranh chấp không còn quyền khởi kiện.

Hậu quả pháp lý khi hết thời hiệu khởi kiện là gì?

         Theo quy định tại Khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 như sau:
"Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ".
        Như vậy, Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khởi kiện với điều kiện thời hiệu khởi kiện phải hết trước khi có bản án, quyết định của Tòa án và phải có yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện của một hoặc các bên. Trong trường hợp trên, tòa án có thể ra quyết định đình chỉ vụ án theo điểm g Khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

Hệ quả pháp lý khi hết thời hiệu khởi kiện

Cần làm gì khi đã hết thời hiệu khởi kiện

Trường hợp không tính thời gian vào thời hiệu khởi kiện ?

        Căn cứ Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 quy định khoảng thời gian xảy ra các sự kiện sau đây thì không được tính vào thời hiệu khởi kiện:

  • Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu.
  • Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
  • Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây: người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân; người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được.

        Ngoài ra, các tranh chấp theo Điều 155 bộ luật Dân sự 2015 sau đây thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện:

  • Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản.
  • Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
  • Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
  • Trường hợp khác do luật quy định.

        Như vậy, khi có tranh chấp xảy ra thì đầu tiên bạn hãy kiểm tra xem tranh chấp của bạn có rơi vào trường hợp không áp dụng thời hiệu theo Điều 155 không. Nếu không rơi vào các trường hợp ở Điều 155 thì tiếp theo hãy kiểm tra xem có sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan nào xảy ra trong thời gian tính thời hiệu của tranh chấp theo Điều 156 Bộ luật Dân sự 2015 không. Nếu có thì khoảng thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan sẽ không được tính vào thời hiệu của tranh chấp, do đó thời hiệu của tranh chấp sẽ được cộng thêm một khoảng thời gian bằng với khoảng thời gian diễn ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Nếu không thì các bạn hãy tiếp tục theo dõi những phần sau đây của chúng tôi.

Trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện

Trường hợp lấy lại thời hiệu khởi kiện

        Căn cứ Điều 157 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về các trường hợp thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại như sau:
  • Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
  • Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
  • Các bên đã tự hòa giải với nhau.
        Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện được quy định trên.

Điều hướng quan hệ tranh chấp để đảm bảo quyền khởi kiện

        Ngoài ra, các bạn có thể khởi kiện vụ án theo cách điều hướng tranh chấp về quan hệ thuộc diện không áp dụng thời hiệu hoặc xác định quan hệ tranh chấp với người được xác định sẽ bị kiện.

        Ví dụ 1: Theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện của hợp đồng vay là 3 năm kể từ khi biết quyền và lợi ích bị xâm phạm. Sau 3 năm tranh chấp về hợp đồng sẽ hết thời hiệu khởi kiện. Do đó khi khởi kiện nên khởi kiện theo hướng đòi lại tài sản, nghĩa là chỉ yêu cầu đòi lại số tiền gốc đã đưa cho người bị kiện, không yêu cầu giải quyết các vấn đề khác trong hợp đồng vay thì sẽ không áp dụng thời hiệu khởi kiện về hợp đồng.
        Ví dụ 2: Theo Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 thì 1 chấp thừa kế có thời hiệu khởi kiện là 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. Khi hết thời gian này thì coi như hết thời hiệu khởi kiện, nhưng nếu có bằng chứng xác định được di sản này đã trở thành tài sản chung của các đồng thừa kế thì người khởi kiện có thể khởi kiện bất kỳ lúc nào cũng được.
        Vì cả hai ví dụ trên đều hướng tới tranh chấp yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu theo Khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015 nên sẽ không áp dụng thời hiệu khởi kiện.

Vụ án có được thụ lý khi hết thời hiệu khởi kiện không?

        Hết thời hiệu khởi kiện không nằm trong các trường hợp trả lại đơn khởi kiện của Tòa án quy định ở Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Bên cạnh đó, luật cũng không quy định về vấn đề trên mà chỉ quy định Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khởi kiện khi có yêu cầu của một hoặc các bên theo Khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Do đó, nếu không có yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án không thể trả đơn với lý do hết thời hiệu khởi kiện được. Từ các quy định trên, các bạn có thể hiểu vụ án vẫn có thể được thụ lý khi hết thời hiệu khởi kiện.

        Như vậy, khi phát hiện tranh chấp có dấu hiệu hết thời hiệu khởi kiện thì bạn nên kiểm tra xem trường hợp của mình có rơi vào các trường không tính thời gian vào thời hiệu hay không áp dụng thời hiệu hay không, trường hợp xác định được tranh chấp đã hết thời hiệu khởi kiện thì bạn nên điều hướng sang các tranh chấp vẫn còn thời hiệu hoặc không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Nếu Quý khách hàng có khó khăn hoặc thắc mắc gì về vấn đề trên, hãy vui lòng liên hệ đến hotline 1900.63.63.87 hoặc email chuyentuvanluat@gmail.com để Thạc sĩ – Luật sư Phan Mạnh Thăng tư vấn kỹ hơn. Xin cảm ơn.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Xác định quan hệ trong tranh chấp đất đai

          Trong quá trình tham gia quan hệ pháp luật đất đai, việc bất đồng quan điểm, mâu thuẫn, xung đột ý kiến là điều khó tránh khỏi. Khi xảy ra mâu thuẫn về mặt lợi ích, xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật đất đai sẽ được gọi là tranh chấp đất đai. Quan hệ tranh chấp đất đai I. Những vấn đề lý luận liên quan đến tranh chấp đất đai 1. Khái niệm tranh chấp đất đai         Đất đai là loại tài sản đặc biệt, là tài nguyên của quốc gia được nhà nước giao cho người dân để sử dụng, quản lý. Đất đai không thuộc sở hữu của các bên tranh chấp mà thuộc sở hữu toàn dân. Điều này đã được quy định tại Điều 53 Hiến pháp 2013 và quy định cụ thể tại Điều 4 Luật Đất đai 2013: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”.         Trong quá trình tham gia quan hệ pháp luật đất đai không phải lúc nào các chủ thể cũng có

Thủ tục hòa giải bắt buộc trước khi khởi kiện

Tranh chấp đất đai vốn là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Đây cũng là  một trong những loại tranh chấp phổ biến nhất hiện nay. Khi phát sinh tranh chấp, hòa giải là phương án giải quyết ban đầu nhằm hạn chế tối đa những mâu thuẫn. Việc hòa giải có thể do các bên tự thương lượng hoặc thông qua một bên trung gian thứ ba trước khi khởi kiện nếu buộc phải giải quyết tại một cơ quan tài phán trong một số trường hợp nhất định. Trong bài viết này, ThS - Luật sư Phan Mạnh Thăng sẽ chia sẻ cụ thể về vấn đề trên. Hòa giải tranh chấp đất đai Khái niệm và đặc điểm của hòa giải tranh chấp đất đai Khái niệm Hòa giải là một trong các phương pháp giải quyết trong tranh chấp đất đai. Theo đó bên thứ ba sẽ đóng vai trò là trung gian giúp đỡ các bên tìm ra giải pháp để giải quyết tranh chấp. Bằng cách thương lượng, thuyết phục cùng với thiện chí của các bên thì tranh chấp sẽ được giải quyết một cách ôn hòa. Đặc điểm         Hiện nay về hò

Lạm thu học phí đầu năm, cơ sở pháp lý nào để xử lý?

Lạm thu học phí đầu năm, cơ sở pháp lý nào để xử lý dành cho các bậc phụ huynh khi có dấu hiệu học phí đầu năm ngày càng tăng. Về các khoản học phí được phép thu đã được pháp luật quy định cụ thể. Trường hợp nhà trường thu học phí sai quy định pháp luật sẽ bị xử lý về hành vi lạm thu học phí. Việc này thường xảy ra do các bậc cha mẹ không nắm rõ quy định. Sau đây, Thạc sĩ - Luật sư Phan Mạnh Thăng xin cung cấp nội dung về vấn đề trên. Hành vi lạm thu học phí đầu năm Các khoản thu nào nhà trường không được phép thu?           Theo Thông tư số 55/2011/TT-BGDĐT thì các khoản phụ phí đầu năm sẽ được thu qua Ban đại diện cha mẹ học sinh theo nguyên tắc tự nguyện. Tuy nhiên, trên thực tế các khoản phí này thường được Ban đại diện cha mẹ học sinh nhờ nhà trường thu hộ và được thu như phí bắt buộc.           Căn cứ khoản 4 Điều 10 Thông tư số 55/2011/TT-BGDĐT quy định những khoản Ban đại diện cha mẹ học sinh không được phép quyên góp là: Các khoản ủng hộ không theo nguyên tắc tự nguyện Bảo vệ