Chuyển đến nội dung chính

Thủ Tục Thành Lập Công Ty Hợp Danh

Công ty hợp danh là loại hình công ty đối nhân. Với loại hình này, có thể kết hợp được uy tín cá nhân để tạo dựng hình ảnh công ty, tạo sự tin cậy cho đối tác. Việc quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng thành viên ít. Để thành lập công ty hợp danh đòi hỏi nhiều thủ tục theo yêu cầu của cơ quan cấp phép thành lập công ty hợp danh, dưới đây là bài viết về thủ tục để thành lập công ty hợp danh.
Thủ tục thành lập công ty hợp danh
Hướng dẫn thủ tục thành lập công ty hợp danh

Thủ tục thành lập công ty hợp danh là gì?

Khi thực hiện các thủ tục khai sinh về mặt pháp lý cho một công ty hợp danh thì đó được xem là thủ tục thành lập công ty hợp danh.
Theo quy định tại điều 172 Luật Doanh nghiệp 2014, công ty hợp danh phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung.
Việc thành lập công ty hợp danh phải được thực hiện tại cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan cấp phép thành lập công ty hợp danh cấp Tỉnh nơi công ty hợp danh dự kiến thành lập đặt trụ sở chính. Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Hồ sơ đăng ký thành lập công ty hợp danh gồm những gì?

Theo quy định tại Điều 22, Nghị định 78/2015/NĐ-CP, hồ sơ cần chuẩn bị khi tiến hành thủ tục hành lập công ty hợp danh gồm các loại giấy tờ sau:
Hồ sơ đăng ký thành lập công ty hợp danh có gì?
Hồ sơ đăng ký thành lập công ty hợp danh
  • Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp (theo mẫu);
  • Điều lệ công ty;
  • Danh sách thành viên công ty hợp danh;
  • Bản sao hợp lệ các giấy tờ sau: Một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định này; Quyết định thành lập hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ tương đương khác, một trong các giấy tờ chứng thực cá nhân quy định tại Điều 10 Nghị định này của người đại diện theo ủy quyền và văn bản ủy quyền tương ứng đối với trường hợp người thành lập doanh nghiệp là tổ chức; Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư trong trường hợp doanh nghiệp được thành lập bởi nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài theo quy định tại Luật Đầu tư.

Trình tự, thủ tục thành lập công ty hợp danh

Trong thủ tục thành lập công ty, doanh nghiệp thực hiện theo phương pháp đăng ký trực tiếp tại Phòng Đăng ký kinh doanh hoặc đăng ký trực tuyến trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia.
  • Bước 1: Doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ đầy đủ.
  • Bước 2: Nộp hồ sơ
Nộp theo đúng trình tự quy định ở điều 27 Luật doanh nghiệp 2014, người thành lập doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền gửi hồ sơ đăng ký doanh nghiệp cho cơ quan đăng ký kinh doanh.
Trong vòng 03 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm xem xét tính hợp lệ của hồ sơ này và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận thì phải thông báo bằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp biết và nêu rõ lý do các yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ.
  • Bước 3: Công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp
Công ty hợp danh phải công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp
Sau khi thành lập, công ty phải công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp
Theo quy định tại khoản 1 điều 33 Luật doanh nghiệp 2014, sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, doanh nghiệp phải thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp theo trình tự, thủ tục và phải trả phí theo quy định. Nội dung công bố gồm nội dung giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, thông tin về ngành, nghề kinh doanh của công ty và danh sách cổ đông sáng lập, cổ đông là nhà đầu tư nước ngoài với công ty cổ phần.
Thời hạn công bố trong vòng 30 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp doanh nghiệp phải thực hiện công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Theo điều 26, Nghị định 50/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư. Nếu doanh nghiệp không công bố thông tin đăng ký doanh nghiệp đúng hạn sẽ bị phạt từ 1.000.000 – 2.000.000 đồng và phải khắc phục hậu quả là buộc phải công bố nội dung đăng ký doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
  • Bước 4: Khắc dấu pháp nhân của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của mình. Nội dung con dấu phải thể hiện thông tin về tên và mã số doanh nghiệp theo quy định ở khoản 1 điều 44 Luật Doanh nghiệp 2014:
  • Bước 5: Thông báo về mẫu con dấu của doanh nghiệp
Hồ sơ thông báo về mẫu con dấu pháp nhân của doanh nghiệp gồm thông báo việc sử dụng mẫu con dấu của doanh nghiệp kèm theo Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Hội đồng thành viên công ty hợp danh về nội dung, hình thức và số lượng con dấu.
Sau khi nhận thông báo về mẫu con dấu, Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận cho doanh nghiệp, thực hiện đăng tải thông báo của doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và cấp Thông báo về việc đăng tải thông tin về mẫu con dấu của doanh nghiệp cho doanh nghiệp.


Tham khảo thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

ĐIỀU KHOẢN BẢO HIỂM HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO ?

Điều khoản bảo hiểm hay là những điều quy định phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm đối với đối tượng được bảo hiểm bị tổn thất do những rủi ro hàng hải gây nên. Khi đối tượng được bảo hiểm theo điều kiện nào, chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong đó gây nên mới được bồi thường. Nước Anh là nước xây dựng luật bảo hiểm hàng hải sớm nhất (1906 - MIA). Trong bảo hiểm hàng hóa đường biển có các bộ điều khoản bảo hiểm do Hiệp hội bảo hiểm Luân Đôn ban hàng như ICC 1963, ICC 1982 hay mới nhất là ICC 2009. Các bộ Điều khoản bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu được sử dụng phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay. Dựa trên cơ sở luật này mà Việt Nam xây dựng các điều kiện bảo hiểm cơ bản gồm: QTC 1965, QTC 1990 do Bộ tài chính ban hành. Sau có QTC 1995, QTC 1998 do Bảo Việt ban hành, hay Petrolimex ban hành QTC 1998 PJCO. Khi mua bảo hiểm cho hàng hóa, trừ những trường hợp đặc biệt, chủ hàng phải mua bảo hiểm theo một trong ba điều kiện bảo hiểm gốc là A, B hoặc C. Ngoài ra, tùy theo hà

Milo Và Ovaltine – Cuộc Chiến Pháp Lý Về Cạnh Tranh Không Lành Mạnh

Mới đây, cộng đồng mạng chia sẻ 2 pano quảng cáo ngoài trời của 2 thương hiệu đồ uống với nội dung đối lập nhau. Trong khi thương hiệu Nestle Milo đặt slogan “Nhà vô địch làm từ Milo” với tôn màu chủ đạo là xanh lá cây thì bên kia đường thương hiệu sữa Ovaltine với tấm biển quảng cáo màu đỏ có in hình 2 mẹ con chỉ tay sang phía “đối thủ” kèm theo dòng chữ ”Chẳng cần vô địch, chỉ cần con thích”. Vấn đề này rốt cuộc là sao? Mời các bạn theo dõi bài viết. Tìm hiểu cuộc chiến pháp lý giữa hai thương hiệu đồ uống Cạnh tranh quảng cáo Milo Và Ovaltine có lành mạnh không? Nestle Việt Nam đã có công văn gửi Cục Văn hóa cơ sở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng Bộ Công Thương để đề nghị xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm luật quảng cáo. Đối tượng mà Nestle “tố” là Công ty Frieslandcampina, đơn vị sở hữu thương hiệu Ovaltine và đang thực hiện chiến dịch truyền thông cho Ovaltine. Với nội dung công văn phía Nestle ghi rõ là Ovalti

Xác định quan hệ trong tranh chấp đất đai

          Trong quá trình tham gia quan hệ pháp luật đất đai, việc bất đồng quan điểm, mâu thuẫn, xung đột ý kiến là điều khó tránh khỏi. Khi xảy ra mâu thuẫn về mặt lợi ích, xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật đất đai sẽ được gọi là tranh chấp đất đai. Quan hệ tranh chấp đất đai I. Những vấn đề lý luận liên quan đến tranh chấp đất đai 1. Khái niệm tranh chấp đất đai         Đất đai là loại tài sản đặc biệt, là tài nguyên của quốc gia được nhà nước giao cho người dân để sử dụng, quản lý. Đất đai không thuộc sở hữu của các bên tranh chấp mà thuộc sở hữu toàn dân. Điều này đã được quy định tại Điều 53 Hiến pháp 2013 và quy định cụ thể tại Điều 4 Luật Đất đai 2013: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”.         Trong quá trình tham gia quan hệ pháp luật đất đai không phải lúc nào các chủ thể cũng có