Thứ Bảy, 15 tháng 7, 2017

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ (PHẦN CUỐI)

6.3.  Sửa đổi, chấm dứt hợp đồng
a. Sửa đổi hợp đồng
Căn cứ Điều 421 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015), sửa đổi hợp đồng quy định như sau:
Thứ nhất, các bên thỏa thuận sửa đổi hợp đồng;
 Thứ hai, hợp đồng có thể được sửa đổi do hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo quy định tại Điều 420
BLDS 2015;
Thứ ba, hợp đồng sửa đổi phải tuân theo hình thức của hợp đồng ban đầu.
b. Chấm dứt hợp đồng
Căn cứ Điều 422 BLDS 2015, hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp sau:
"1. Hợp đồng đã được hoàn thành;
2. Theo thỏa thuận của các bên;
3. Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;
4. Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện;
5. Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn;
6. Hợp đồng chấm dứt theo quy định tại Điều 420 của Bộ luật này;
7. Trường hợp khác do luật quy định."
Về hợp đồng bị hủy bỏ, theo Điều 423 BLDS 2015, một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng
và không phải bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau:
a) Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận;
b) Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng;
Vi phạm nghiêm trọng được hiểu là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.
c) Trường hợp khác do luật quy định.
Bên hủy bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy bỏ, nếu không
thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Các trường hợp hủy bỏ hợp đồng do luật quy định bao gồm:
(i) Hủy bỏ hợp đồng do chậm thực hiện nghĩa vụ;
Theo Điều 424 BLDS 2015, trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ
mà bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trong một thời hạn hợp lý nhưng bên có
nghĩa vụ không thực hiện thì bên có quyền có thể hủy bỏ hợp đồng. Trường hợp do tính chất của hợp đồng hoặc do ý chí của các bên, hợp đồng sẽ không đạt được mục đích nếu không được thực hiện trong thời hạn nhất định mà hết thời hạn đó bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng mà không phải tuân theo quy định trên.
(ii) Hủy bỏ hợp đồng do không có khả năng thực hiện;
Theo Điều 425 BLDS 2015, trường hợp bên có nghĩa vụ không thể thực hiện được một
phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình làm cho mục đích của bên có quyền không thể đạt được thì bên có quyền có thể hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
(iii) Hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp tài sản bị mất, bị hư hỏng.
Trường hợp một bên làm mất, làm hư hỏng tài sản là đối tượng của hợp đồng mà không
thể hoàn trả, đền bù bằng tài sản khác hoặc không thể sửa chữa, thay thế bằng tài sản cùng loại thì bên kia có quyền hủy bỏ hợp đồng. Bên vi phạm phải bồi thường bằng tiền ngang với giá trị của tài sản bị mất, bị hư hỏng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 351 và Điều 363 BLDS 2015.
Việc hủy bỏ hợp đồng sẽ dẫn đến một số hậu quả pháp lý quy định tại Điều 427 BLDS
2015 như sau:
a) Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp;
b) Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản. Việc hoàn trả được thực hiện bằng hiện vật. Trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để hoàn trả. Trường hợp các bên cùng có nghĩa vụ hoàn trả thì việc hoàn trả phải được thực hiện cùng một thời điểm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
c) Bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia được bồi thường.
d) Việc giải quyết hậu quả của việc hủy bỏ hợp đồng liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này và luật khác có liên quan quy định.
e) Trường hợp việc hủy bỏ hợp đồng không có căn cứ quy định tại các Điều 423, 424, 425 và 426 BLDS 2015 thì bên hủy bỏ hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự do không thực hiện đúng nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan.
Về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, Điều 428 BLDS 2015 quy định như sau:
- Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
- Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
- Hậu quả pháp lý: Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm
dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện.
- Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia
được bồi thường.
- Trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan do không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng.
Về thời hiệu khởi kiện về hợp đồng, theo Điều 429 BLDS 2015, thời hiệu khởi kiện để
yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

 Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét