Chuyển đến nội dung chính

CÁC ĐIỀU KHOẢN CƠ BẢN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA (PHẦN 1)



Các điều khoản cơ bản trong hợp đồng là những điều khoản không thể thiếu được đối với từng loại hợp đồng, đặc biệt là trong hợp đồng mua bán hàng hóa mà nếu không thỏa thuận được những điều khoản đó thì hợp đồng không thể giao kết được.
Nội dung của điều khoản cơ bản trong hợp đồng đều là những nội dung mà hai bên ký kết đã thỏa thuận và thống nhất.

Tại Điều 3 Luật thương mại 2005 có nêu ra các định nghĩa:
8. Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận.

a. Chủ thể thực hiện hợp đồng
Điều kiện về năng lực pháp luật, năng lực hành vi
Điều 117 Bộ luật dân sự 2015: Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
-            Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
-            Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;
-            Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Điều kiện được phép thực hiện hành vi mua bán hàng hóa
Đối với chủ thể trong hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân (thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài - hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế): Theo Điều 6 Luật thương mại 2005 bao gồm các điều kiện về thương nhân: Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
Các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa và không nhằm mục đích sinh lời, được điều chỉnh bởi Luật thương mại khi các bên chọn Luật thương mại để áp dụng.

b. Định nghĩa các khái niệm trong hợp đồng
Các khái niệm có liên quan đến đối tượng, quyền và nghĩa vụ của các bên nhằm làm rõ những thuật ngữ pháp lý, quyền và nghĩa vụ của hai bên để đảm bảo việc thực hiện hợp đồng. Định nghĩa các khái niệm trong hợp đồng dịch vụ có thể nằm ở mục đầu tiên của hợp đồng.
c. Đối tượng hợp đồng
Đối tượng của hợp đồng này là những hàng hóa thương mại được phép lưu thông trên thị trường, không thuộc danh mục cấm kinh doanh theo quy định tại văn bản hợp nhất 19/VBHN-BTC và Phụ lục I Nghị định 59/2006/NĐ-CP.

Khoản 2 Điều 3 Luật thương mại quy định: Hàng hóa bao gồm:
-            Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;
-            Những vật gắn liền với đất đai.
Trong hợp đồng mua bán, đối tượng được liệt kê ngay tại điều khoản đầu tiên trong hợp đồng ngay sau phần giới thiệu các chủ thể trong hợp đồng.

d. Giá trị hợp đồng
Căn cứ, cơ sở tính giá trị hợp đồng:
Dựa trên những điều khoản mà hai bên đã thỏa thuận và ký kết, theo đó bao gồm những chi phí mà bên mua phải có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán để nhận được hàng hóa.
Các nghĩa vụ liên quan đến giá trị hợp đồng (Thuế VAT, chi phí kho bãi, chi phí
lắp đặt…Có thể bao gồm:
- Thuế giá trị gia tăng.
- Phí mua hàng.
- Phí giao hàng.
- Phí khi bãi.
- Những chi phí khác mà bên bán yêu cầu bên mua thanh toán trong hợp đồng.

Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

ĐIỀU KHOẢN BẢO HIỂM HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO ?

Điều khoản bảo hiểm hay là những điều quy định phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm đối với đối tượng được bảo hiểm bị tổn thất do những rủi ro hàng hải gây nên. Khi đối tượng được bảo hiểm theo điều kiện nào, chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong đó gây nên mới được bồi thường. Nước Anh là nước xây dựng luật bảo hiểm hàng hải sớm nhất (1906 - MIA). Trong bảo hiểm hàng hóa đường biển có các bộ điều khoản bảo hiểm do Hiệp hội bảo hiểm Luân Đôn ban hàng như ICC 1963, ICC 1982 hay mới nhất là ICC 2009. Các bộ Điều khoản bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu được sử dụng phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay. Dựa trên cơ sở luật này mà Việt Nam xây dựng các điều kiện bảo hiểm cơ bản gồm: QTC 1965, QTC 1990 do Bộ tài chính ban hành. Sau có QTC 1995, QTC 1998 do Bảo Việt ban hành, hay Petrolimex ban hành QTC 1998 PJCO. Khi mua bảo hiểm cho hàng hóa, trừ những trường hợp đặc biệt, chủ hàng phải mua bảo hiểm theo một trong ba điều kiện bảo hiểm gốc là A, B hoặc C. Ngoài ra, tùy theo hà

Milo Và Ovaltine – Cuộc Chiến Pháp Lý Về Cạnh Tranh Không Lành Mạnh

Mới đây, cộng đồng mạng chia sẻ 2 pano quảng cáo ngoài trời của 2 thương hiệu đồ uống với nội dung đối lập nhau. Trong khi thương hiệu Nestle Milo đặt slogan “Nhà vô địch làm từ Milo” với tôn màu chủ đạo là xanh lá cây thì bên kia đường thương hiệu sữa Ovaltine với tấm biển quảng cáo màu đỏ có in hình 2 mẹ con chỉ tay sang phía “đối thủ” kèm theo dòng chữ ”Chẳng cần vô địch, chỉ cần con thích”. Vấn đề này rốt cuộc là sao? Mời các bạn theo dõi bài viết. Tìm hiểu cuộc chiến pháp lý giữa hai thương hiệu đồ uống Cạnh tranh quảng cáo Milo Và Ovaltine có lành mạnh không? Nestle Việt Nam đã có công văn gửi Cục Văn hóa cơ sở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng Bộ Công Thương để đề nghị xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm luật quảng cáo. Đối tượng mà Nestle “tố” là Công ty Frieslandcampina, đơn vị sở hữu thương hiệu Ovaltine và đang thực hiện chiến dịch truyền thông cho Ovaltine. Với nội dung công văn phía Nestle ghi rõ là Ovalti

Xác định quan hệ trong tranh chấp đất đai

          Trong quá trình tham gia quan hệ pháp luật đất đai, việc bất đồng quan điểm, mâu thuẫn, xung đột ý kiến là điều khó tránh khỏi. Khi xảy ra mâu thuẫn về mặt lợi ích, xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật đất đai sẽ được gọi là tranh chấp đất đai. Quan hệ tranh chấp đất đai I. Những vấn đề lý luận liên quan đến tranh chấp đất đai 1. Khái niệm tranh chấp đất đai         Đất đai là loại tài sản đặc biệt, là tài nguyên của quốc gia được nhà nước giao cho người dân để sử dụng, quản lý. Đất đai không thuộc sở hữu của các bên tranh chấp mà thuộc sở hữu toàn dân. Điều này đã được quy định tại Điều 53 Hiến pháp 2013 và quy định cụ thể tại Điều 4 Luật Đất đai 2013: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”.         Trong quá trình tham gia quan hệ pháp luật đất đai không phải lúc nào các chủ thể cũng có