Chuyển đến nội dung chính

Chứng thực là gì? Khác gì công chứng?

Chứng thực khác gì với công chứng là câu hỏi mà nhiều người thắc mắc khi thực hiện các giao dịch cần phải công chứng, chứng thực. Công chứng và chứng thực trên thực tế sẽ có những điểm giống nhau và khác nhau về các mặt định nghĩa, thẩm quyền, bản chất, giá trị pháp lý. Quý khách cần nắm rõ vấn đề trên để thực hiện thủ tục theo đúng pháp luật. Sau đây là các nội dung cơ bản mà Thạc sĩ - Luật sư Phan Mạnh Thăng xin cung cấp về vấn đề trên.
Chứng thực khác gì với công chứng?

Quy định pháp luật về chứng thực

Chứng thực là gì?

        Hiện nay vẫn chưa có văn bản pháp luật nào quy định rõ ràng chứng thực là gì. Nhưng có thể hiểu chứng thực là quá trình mà một cơ quan có thẩm quyền xác nhận tính chính xác, hợp pháp của các giấy tờ, văn bản, chữ ký hoặc thông tin cá nhân của cá nhân hoặc tổ chức liên quan trong các mối quan hệ dân sự, kinh tế, hành chính. Quá trình chứng thực giúp bảo vệ quyền và lợi ích của các bên liên quan bằng cách đảm bảo rằng thông tin được xác nhận là chính xác và đáng tin cậy.

Phân loại chứng thực

        Căn cứ khoản 1,2,3,4 Điều 2 Nghị định 23/2015/NĐ-CP quy định các loại chứng thực sau:
“Cấp bản sao từ sổ gốc” là việc cơ quan, tổ chức đang quản lý sổ gốc, căn cứ vào sổ gốc để cấp bản sao. Bản sao từ sổ gốc có nội dung đầy đủ, chính xác như nội dung ghi trong sổ gốc.
“Chứng thực bản sao từ bản chính” là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này căn cứ vào bản chính để chứng thực bản sao là đúng với bản chính.
“Chứng thực chữ ký” là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản là chữ ký của người yêu cầu chứng thực.
“Chứng thực hợp đồng, giao dịch” là việc cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định này chứng thực về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch.

Phân biệt giữa chứng thực và công chứng

Giống nhau

        Công chứng và chứng thực đều là quá trình chứng nhận hoặc xác nhận tính có thực của một hợp đồng, giao dịch hoặc tài liệu nào đó. Cả hai quy trình này đảm bảo rằng các bên tham gia hợp đồng hoặc giao dịch đều có năng lực hành vi dân sự và đã tự nguyện tham gia ký kết hợp đồng hoặc giao dịch.
        Công chứng và chứng thực đều phải thực hiện theo nguyên tắc sau:
  • Tuân thủ theo quy định pháp luật
  • Khách quan, trung thực (không vì lợi ích cá nhân, mối quan hệ)
  • Chịu trách nhiệm trước pháp luật và người yêu cầu công chứng, chứng thực
  • Đảm bảo quy tắc đạo đức hành nghề

Khác nhau

Sự giống và khác nhau giữa công chứng với chứng thực

Tiêu chí

Chứng thực

Công chứng

Định nghĩa

Chứng thực là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực giấy tờ, văn bản, hợp đồng, giao dịch căn cứ vào bản chính, bản gốc …

Các loại chứng thực:

  • Cấp bản sao từ sổ gốc

  • Chứng thực bản sao từ bản chính

  • Chứng thực chữ ký

  • Chứng thực hợp đồng, giao dịch

Công chứng là việc chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt

Thẩm quyền

  • Phòng Tư pháp

  • Ủy ban Nhân dân cấp xã

  • Cơ quan đại diện

  • Công chứng viên

  • Phòng công chứng

  • Văn phòng công chứng

  • Cơ quan đại diện

Bản chất

Đảm bảo về mặt hình thức theo đúng như bản gốc và quy định của pháp luật. Không chú trọng về mặt nội dung.

  • Đảm bảo tính hợp pháp về cả hình thức và nội dung của hợp đồng, giao dịch.

  • Mang tính pháp lý cao hơn

Giá trị pháp lý

  • Bản sao được cấp từ sổ gốc có giá trị sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch

  • Bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị sử dụng thay cho bản chính đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch

  • Chữ ký được chứng thực có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó

  • Hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên

  • Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và đóng dấu

  • Hợp đồng, giao dịch được công chứng có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan

  • Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu.

  • Bản dịch được công chứng có giá trị sử dụng như giấy tờ, văn bản được dịch.

Khi nào cần chứng thực, công chứng

        Thứ nhất, đối với một số giấy tờ, văn bản bắt buộc phải công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật thì quý khách cần phải công chứng, chứng thực trong quá trình thực hiện thủ tục pháp lý thì văn bản, giấy tờ đó mới đảm bảo tính có hiệu lực.
Các hợp đồng có cần công chứng, chứng thực
          Thứ hai, một số hợp đồng theo quy định pháp luật sau cần phải được công chứng, chứng thực:
  • Các loại hợp đồng về quyền sử dụng đất; tài sản gắn liền với đất không phải là nhà ở cần phải công chứng, chứng thực
  • Các loại hợp đồng về tài sản gắn liền với đất là nhà ở cần phải công chứng, chứng thực
  • Các loại văn bản về thừa kế cần phải công chứng, chứng thực
  • Các loại văn bản về hôn nhân và gia đình cần phải công chứng, chứng thực
  • Các loại văn bản về phương tiện vận tải cần phải công chứng, chứng thực
        Như vậy, công chứng và chứng thực đều là quá trình xác nhận tính có thực của một hợp đồng, giao dịch hoặc tài liệu nào đó. Bên cạnh đó, hai thủ tục này cũng có nhiều điểm khác nhau về mặt định nghĩa, thẩm quyền, bản chất, giá trị pháp lý. Quý khách cần nắm rõ những vấn đề trên để thực hiện các thủ tục theo đúng quy định pháp luật. Nếu Quý khách hàng có khó khăn hoặc thắc mắc gì về vấn đề trên, hãy vui lòng liên hệ đến hotline 0908.748.368 hoặc email chuyentuvanluat@gmail.com để Ths - Luật sư Phan Mạnh Thăng tư vấn kỹ hơn. Xin cảm ơn.


Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Milo Và Ovaltine – Cuộc Chiến Pháp Lý Về Cạnh Tranh Không Lành Mạnh

Mới đây, cộng đồng mạng chia sẻ 2 pano quảng cáo ngoài trời của 2 thương hiệu đồ uống với nội dung đối lập nhau. Trong khi thương hiệu Nestle Milo đặt slogan “Nhà vô địch làm từ Milo” với tôn màu chủ đạo là xanh lá cây thì bên kia đường thương hiệu sữa Ovaltine với tấm biển quảng cáo màu đỏ có in hình 2 mẹ con chỉ tay sang phía “đối thủ” kèm theo dòng chữ ”Chẳng cần vô địch, chỉ cần con thích”. Vấn đề này rốt cuộc là sao? Mời các bạn theo dõi bài viết. Tìm hiểu cuộc chiến pháp lý giữa hai thương hiệu đồ uống Cạnh tranh quảng cáo Milo Và Ovaltine có lành mạnh không? Nestle Việt Nam đã có công văn gửi Cục Văn hóa cơ sở Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng Bộ Công Thương để đề nghị xử lý vụ việc cạnh tranh không lành mạnh và vi phạm luật quảng cáo. Đối tượng mà Nestle “tố” là Công ty Frieslandcampina, đơn vị sở hữu thương hiệu Ovaltine và đang thực hiện chiến dịch truyền thông cho Ovaltine. Với nội dung công văn phía Nestle ghi rõ là Ovalti

ĐIỀU KHOẢN BẢO HIỂM HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO ?

Điều khoản bảo hiểm hay là những điều quy định phạm vi trách nhiệm của người bảo hiểm đối với đối tượng được bảo hiểm bị tổn thất do những rủi ro hàng hải gây nên. Khi đối tượng được bảo hiểm theo điều kiện nào, chỉ những rủi ro tổn thất quy định trong đó gây nên mới được bồi thường. Nước Anh là nước xây dựng luật bảo hiểm hàng hải sớm nhất (1906 - MIA). Trong bảo hiểm hàng hóa đường biển có các bộ điều khoản bảo hiểm do Hiệp hội bảo hiểm Luân Đôn ban hàng như ICC 1963, ICC 1982 hay mới nhất là ICC 2009. Các bộ Điều khoản bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu được sử dụng phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay. Dựa trên cơ sở luật này mà Việt Nam xây dựng các điều kiện bảo hiểm cơ bản gồm: QTC 1965, QTC 1990 do Bộ tài chính ban hành. Sau có QTC 1995, QTC 1998 do Bảo Việt ban hành, hay Petrolimex ban hành QTC 1998 PJCO. Khi mua bảo hiểm cho hàng hóa, trừ những trường hợp đặc biệt, chủ hàng phải mua bảo hiểm theo một trong ba điều kiện bảo hiểm gốc là A, B hoặc C. Ngoài ra, tùy theo hà

Xác định quan hệ trong tranh chấp đất đai

          Trong quá trình tham gia quan hệ pháp luật đất đai, việc bất đồng quan điểm, mâu thuẫn, xung đột ý kiến là điều khó tránh khỏi. Khi xảy ra mâu thuẫn về mặt lợi ích, xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật đất đai sẽ được gọi là tranh chấp đất đai. Quan hệ tranh chấp đất đai I. Những vấn đề lý luận liên quan đến tranh chấp đất đai 1. Khái niệm tranh chấp đất đai         Đất đai là loại tài sản đặc biệt, là tài nguyên của quốc gia được nhà nước giao cho người dân để sử dụng, quản lý. Đất đai không thuộc sở hữu của các bên tranh chấp mà thuộc sở hữu toàn dân. Điều này đã được quy định tại Điều 53 Hiến pháp 2013 và quy định cụ thể tại Điều 4 Luật Đất đai 2013: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”.         Trong quá trình tham gia quan hệ pháp luật đất đai không phải lúc nào các chủ thể cũng có