Chuyển đến nội dung chính

Thủ tục hòa giải bắt buộc trước khi khởi kiện

Tranh chấp đất đai vốn là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Đây cũng là một trong những loại tranh chấp phổ biến nhất hiện nay. Khi phát sinh tranh chấp, hòa giải là phương án giải quyết ban đầu nhằm hạn chế tối đa những mâu thuẫn. Việc hòa giải có thể do các bên tự thương lượng hoặc thông qua một bên trung gian thứ ba trước khi khởi kiện nếu buộc phải giải quyết tại một cơ quan tài phán trong một số trường hợp nhất định. Trong bài viết này, ThS - Luật sư Phan Mạnh Thăng sẽ chia sẻ cụ thể về vấn đề trên.

Hòa giải tranh chấp đất đai

Khái niệm và đặc điểm của hòa giải tranh chấp đất đai

Khái niệm

Hòa giải là một trong các phương pháp giải quyết trong tranh chấp đất đai. Theo đó bên thứ ba sẽ đóng vai trò là trung gian giúp đỡ các bên tìm ra giải pháp để giải quyết tranh chấp. Bằng cách thương lượng, thuyết phục cùng với thiện chí của các bên thì tranh chấp sẽ được giải quyết một cách ôn hòa.

Đặc điểm

        Hiện nay về hòa giải trước khi khởi kiện bao gồm hòa giải cơ sở, hòa giải tiền tố tụng tại UBND cấp xã. Ngoài ra còn có hòa giải tiền tố tụng tại Tòa án nhưng đây là phương pháp mới đang được áp dụng thí điểm và chưa được hệ thống hóa bằng văn bản pháp luật. Hòa giải trước khi khởi kiện có những đặc điểm sau đây:
        Thứ nhất, về chủ thể tiến hành hòa giải trước khi khởi kiện đối với tranh chấp đất đai là tổ hòa giải (đối với hòa giải cơ sở) hoặc Ủy ban nhân dân xã, phưởng, thị trấn (đối với hòa giải tiền tố tụng tại UBND cấp xã). Tùy vào từng trường hợp, từng loại tranh chấp cụ thể mà sẽ có phương pháp hòa giải thích hợp. Ngoài ra, những người hòa giải phải là các chủ thể am hiểu các quy định về đất đai, quá trình và nguyên nhân dẫn đến tranh chấp.
        Thứ hai, về cơ bản hòa giải trong tranh chấp đất đai vẫn dựa trên sự tự nguyện thỏa thuận của các bên. Do đó trong quá trình hòa giải các bên cùng thương lượng và thỏa thuận với nhau. Còn bên thứ ba chỉ đóng vai trò là hỗ trợ, không được phép tác động lên ý muốn của các bên.
        Thứ ba, đây có thể là một thủ tục bắt buộc. Tùy theo tranh chấp cụ thể là gì và căn cứ theo các quy định có liên quan thì hòa giải sẽ là thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiện đối với một số trường hợp nhất định.
        Thứ tư, hòa giải được tiến hành tại địa phương có đất tranh chấp. Vì tranh chấp đất đai là tranh chấp gắn liền với tài sản là đất. Khi thực hiện hòa giải cần thực hiện ở địa phương có đất tranh chấp là vì các chủ thể tiến hành hòa giải tại đây sẽ có đủ thông tin và hiện trạng của phần đất tranh chấp giúp cho quá trình hòa giải được thuận lợi hơn.

Những quy định của pháp luật về hòa giải trước khi khởi kiện

Những tranh chấp buộc phải hòa giải trước khi khởi kiện

        Trong Luật Đất đai hiện hành chỉ nêu khái niệm về tranh chấp đất đai là gì chứ không nêu rõ cụ thể các tranh chấp liên quan đến đất đai là như thế nào và hướng xử lý khi có tranh chấp xảy ra. Cụ thể tại Tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai 2013 quy định như sau: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.” 
        Bởi vì quy định của Luật Đất đai chưa rõ ràng khiến cho các hoạt động quản lý và giải quyết khi có tranh chấp khó kiểm soát nên về sau HĐTPTANDTC đã ban hành Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của HĐTPTANDTC đã giải thích rõ các tranh chấp liên quan đến đất đai như sau: Đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
        Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất,... thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án. Qua đó ta có thể nhận định những tranh chấp đất đai mà cần xác định ai là người có quyền sử dụng đất thì bắt buộc phải được hòa giải trước khi khởi kiện. Còn những tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như giao dịch liên quan đến đất, thừa kế, tài sản chung của vợ chồng,… thì thủ tục hòa giải là không bắt buộc.
        Ngoài ra, tại Điều 202 Luật Đất đai 2013 có quy định “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.”. Theo đó, biện pháp hòa giải là biện biện pháp nhà nước khuyến khích để các bên sử dụng. Vì đây là biện pháp giải quyết tranh chấp hữu hiệu, qua đó các bên có thể chủ động thương lượng tìm ra giải pháp thích hợp, hạn chế khởi kiện ra Tòa án. Đồng thời rút ngắn được thời gian giải quyết tranh chấp, giảm được công việc cho các cơ quan tiến hành tố tụng và tiến kiệm chi phí cho nhà nước.
Khởi kiện tranh chấp đất đai

Hòa giải cơ sở đối với tranh chấp đất đai

        Hòa giải cơ sở đối với đất đai hiện nay là phương pháp hòa giải được quy định và điều chỉnh bởi Luật Hòa giải ở cơ sở 2013. Theo đó, ta có thể hiểu hòa giải cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật theo quy định của Luật này.
Thành phần hòa giải
        Đây không phải là thủ tục bắt buộc mà chỉ là dựa trên sự tự nguyện của các bên. Theo khoản 2 Điều 17 Luật Hòa giải ở cơ sở 2013 thì các bên có quyền đồng ý hoặc từ chối hòa giải. Về bản chất tổ hòa giải là tổ chức tự quản của nhân dân được thành lập ở địa phương (thôn, xóm, bản, ấp, tổ dân phố và các cụm dân cư khác) nhằm giải quyết các tranh chấp trong địa phương mình. Ngoài ra về thành phần tổ hòa giải cũng được quy định trong Luật Hòa giải cơ sở 2013, tại khoản 1 Điều 12 được quy định như sau: Tổ hòa giải có tổ trưởng và các hòa giải viên. Mỗi tổ hòa giải có từ 03 hòa giải viên trở lên, trong đó có hòa giải viên nữ. Đối với vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, tổ hòa giải phải có hòa giải viên là người dân tộc thiểu số.
        Các hòa giải viên được bầu phải có đủ phấm chất đạo đức, uy tin trong xã hội và am hiểu về pháp luật. Sau khi bầu chọn hòa giải viên xong, Trưởng ban công tác Mặt trận Tổ Quốc sẽ lập danh sách đề nghị Chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định công nhận hòa giải viên. Tổ trưởng tổ hòa giải sẽ do các hòa giải viên bầu trong số các hòa giải viên để phụ trách tổ hòa giải.
Trình tự, thủ tục hòa giải cơ sơ
        Về bản chất hòa giải cơ sở là thủ tục hòa giải dựa trên sự tự nguyện của các bên khi các bên có thiện chí muốn giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Về trình tự thủ tục thực hiện hòa giải cơ sở được quy định và điều chỉnh bởi Luật Hòa giải ở cơ sở 2013. Việc tổ chức hòa giải cơ sở sẽ được thực hiện tại nơi có tranh chấp hoặc sẽ do các bên thỏa thuận lựa chọn. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày được phân công, hòa giải viên bắt đầu tiến hành hòa giải, trừ trường hợp cần thiết phải hòa giải ngay khi chứng kiến vụ, việc hoặc các bên có thỏa thuận khác về thời gian hòa giải.
        Hòa giải được tiến hành trực tiếp, bằng lời nói với sự có mặt của các bên. Trong trường hợp các bên có người khuyết tật thì có sự hỗ trợ phù hợp để có thể tham gia hòa giải. Cuộc họp Hòa giải sẽ được tiến hành như một cuộc họp nội bộ thường lệ, các bên trình bày phân tích các vấn đề liên quan đến tranh chấp. Hòa giải viên cần phải tìm hiểu và dựa vào các căn cứ, tài liệu trước đó cùng với các quy định của pháp luật để đưa ra hướng giải quyết thỏa đáng.
        Hòa giải viên có trách nhiệm ghi nội dung vụ, việc hòa giải vào Sổ theo dõi hoạt động hòa giải ở cơ sở. Nếu các bên đồng ý thì lập văn bản hòa giải thành theo quy định của luật. Sau khi kết thúc hòa giải nếu hòa giải thành các bên có trách nhiệm thực hiện thỏa thuận hòa giải thành. Nếu hòa giải không thành các bên có quyền yêu cầu tiếp tục hòa giải hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật
        Ngoài ra, trong quá trình thực hiện thỏa thuận hòa giải thành, nếu một bên vì sự kiện bất khả kháng không thể thực hiện được thì có trách nhiệm trao đổi, thỏa thuận với bên kia và thông báo cho hòa giải viên.

Hòa giải tiền tố tụng tại UBND cấp xã

        Theo quy định tại khoản 2 Điều 202 Luật Đất đai 2013 thì Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải. Qua đó ta có thể thấy được sự khác biệt cơ bản giữa hòa giải tại UBND với hòa giải cơ sở là hòa giải tại UBND là hòa giải có sự can thiệp trực tiếp của nhà nước, được thực hiện theo một trình tự thủ tục đã được quy định. Tuy nhiên cần lưu ý là đây không phải là một cấp giải quyết trong tranh chấp đất đai mà vẫn là thủ tục hòa giải thông quan trung gian.
        Ngoài ra theo Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của HĐTPTANDTC thì hòa giải tại UBND sẽ là hòa giải bắt buộc trong một số trường hợp nhất định như tranh chấp xác định ai là người có quyền sử dụng đất. Đối với tranh chấp xác định chủ của phần đất tranh chấp thì thủ tục hòa giải này là buộc phải thực hiện, nếu chưa được hòa giải tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp thì sẽ được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Thành phần hòa giải
        Về quy định thành phần hòa giải được quy định cụ thể trong Luật đất đai 2013. UBND cấp xã có nghĩa vụ tổ chức cuộc họp hòa giải với sự tham giam của các bên tranh chấp và hội đồng hòa giải. Về thành phần của hòa giải sẽ được quy định cụ thể tại khoản 27 Điều 1 Nghị định 148/2020/NĐ-CP ngày 18/12/2020 quy định sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai như sau: Thành phần Hội đồng gồm:
- Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân là Chủ tịch Hội đồng;
- Đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn;
- Tổ trưởng tổ dân phố đối với khu vực đô thị; trưởng thôn, ấp đối với khu vực nông thôn;
- Người có uy tín trong dòng họ, ở nơi sinh sống, nơi làm việc; người có trình độ pháp lý, có kiến thức xã hội; già làng, chức sắc tôn giáo, người biết rõ vụ, việc; đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất đó;
- Cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp xã, phường, thị trấn.
- Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể mời đại diện Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
Trình tự, thủ tục hòa giải tại UBND
        Đối với tranh chấp đất đai theo quy định của Điều 202 Luật Đất đất 2013 thì Chủ tịch UBND cấp xã phải có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tại địa phương mình. Trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Về trình tự thủ tục hòa giải tại UBND sẽ diễn ra theo theo các bước được quy định trong pháp luật nhưng thủ tục hòa giải không được giải quyết quá 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết.
        Đầu tiên về việc tiếp nhận hồ sơ và các công việc tại UBND cấp xã để xác minh vấn đề: Khi có tranh chấp xảy ra mà các bên không thể thương lượng giải quyết được thì nộp đơn đến UBND cấp xã để được hỗ trợ giải quyết. Về cơ bản hồ sơ cần được chuẩn bị gồm: Đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai, các tài liệu chứng cứ liên quan đến tranh chấp (như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng, giấy tờ chứng minh việc sang nhượng, biên nhận tiền, trích lục thửa đất, giấy ủy quyền, chứng minh nhân dân,…và các tài liệu khác có liên quan đến tranh chấp nếu có).
        Sau khi nhân được hồ sơ yêu cầu giải quyết hòa giải thì UBND cấp xã phải có trách nhiệm thẩm tra, xác minh tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp và thu thập giấy tờ, tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất. Đây là thủ tục bắt buộc mà cơ quan tiến hành hòa giải phải thực hiện để đảm bảo việc hòa giải mang lại kết quả đúng đắn.
        Về tổ chức hòa giải: UBND cấp xã phải gửi thư mời đến các bên tranh chấp, hội đồng hòa giải và những bên có liên quan. Việc hòa giải chỉ được tiến hành nếu các bên đều có mặt. Nếu một bên tranh vắng mặt thì phải hoãn cuộc họp và phải lập biên bản nêu rõ lý do hoãn cuộc họp. Cuộc họp hòa giải sẽ được tổ chức lần hai, nếu lần thứ hai mà bên tránh vẫn tiếp tục vắng mặt thì được xem là hòa giải không thành.
        Kết quả hòa giải sẽ được lập thành văn bản bao gồm đầy đủ thông tin về tranh chấp, nội dung các buổi hòa giải và ý kiến của hội đồng trong cuộc họp. Biên bản phải có chữ ký của Chủ tịch hội đồng, các bên tham gia tranh chấp, các thành viên tham gia phiên họp và phải được đóng dấu của UBND cấp xã. Kết quả hòa giải sẽ được gửi cho các bên tranh chấp và được lưu tại UBND cấp xã. Các bên buộc phải thực hiện và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ của mình.
        Nếu trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiến bằng văn bản khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đối với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hoặc không thành Trường hợp hòa giải không thành thì UBND lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên nộp hồ sơ khởi kiện tại Tòa án.
        Ngoài ra trong trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, người sử dụng đất thì UBND cấp xã phải gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên và Môi trường đối với trường hợp tranh chấp đất đai giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau hoặc gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường đối với các trường hợp khác.
Thủ tục hòa giải tại UBND cấp xã

Thủ tục sau hòa giải

Thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận hòa giải thành
        Xét về bản chất thủ tục hòa là sự thỏa thuận dựa trên ý chí của các bên, không có sự ràng buộc của pháp luật. Do đó, trê thực tế vẫn có hiện trạng sau khi hòa giải thành xong nếu các bên muốn thay đổi ý kiến, không thực hiện theo trong thủ tục hòa giải. Vì vậy để kết quả hòa giải có tính ràng buộc hơn thì thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận hòa giải thành là biện pháp cần thực hiện để đảm bảo tính thi hành của các bên trong thỏa thuận hòa giải.
        Về thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành hiện nay đã được Bộ Tư pháp quy định tại Công văn số: 1503/BTP-PBGDPL ngày 05/5/2017 về hướng dẫn thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ở cơ sở như sau:
        Về thẩm quyền Tòa án ra kết quả công nhận hòa giải thành là Tòa án cấp huyện nơi người yêu cầu cư trú. Điều kiện công nhận kết quả hòa giải thành cơ sở phải thỏa các điều kiện:
- Các bên thỏa thuận có đẩy đủ năng lực hành vi dân sự
- Vụ, việc hòa giải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về hòa giải cơ sở
- Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý;
- Phải có văn bản hòa giải thành. Nội dung trong văn bản là đúng với ý chí của các bên, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.
        Về thủ tục yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành là người yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành phải gửi đơn yêu cầu đến Tòa án trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày các bên đạt được thỏa thuận hòa giải thành theo quy đinh tại Điều 418 BLTTDS 2015. Đơn yêu cầu phải có đủ các thông của đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự; tên, địa chỉ của cơ quan tiến hành hòa giải; nội dung, thỏa thuận hòa giải thành; kết quả hòa giải thành.
Thủ tục yêu cầu khởi kiện khi hòa giải không thành
        Sau khi có kết quả hòa giải không thành thì các bên có quyền khởi kiện đến Tòa án để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên hiện nay pháp luật không quy định cụ thể thẩm quyền của chủ thể chuyển hồ sơ hoà giải cho Toà án. Do đó nếu kết quả hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải mà các bên muốn thay đổi ý kiến thì phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ giấy tờ gồm đơn khởi kiện cũng như các giấy tờ có liên quan đến tranh chấp và biên bản, kết quả hòa giải. Tuy nhiên bởi vì pháp luật không quy định cụ thể chủ thể chuyển hồ sơ cho Tòa án nên sẽ khó tránh khỏi những bất cập khiến cho hồ sơ vụ án không được minh bạch. Ví dụ: trong trường hợp nếu giao cho bên tranh chấp chuyển hồ sơ kèm theo đơn kiện cho Tòa án nếu bên tranh chấp phát hiện trong hồ sơ hòa giải có chứng cứ chứng mình bất lợi cho mình thì sẽ không giao nộp cho Tòa án….

Một số lưu ý trong và sau quá trình hòa giải

        Trong quá trình hòa giải sẽ khó tránh khỏi một số lý do khiến cho kết quả hòa giải của các bên sẽ không đúng đắn và không như mong muốn như:
- Các cơ quan điều tra xác minh chưa chính xác, chưa cụ thể;
- Những sai sót trong trình tự thủ tục hòa giải như thành phần hòa giải không đủ, biên bản hòa giải không thể hiện sự vắng mặt của bên tranh chấp;
- Có căn cứ xác định hòa giải viên không công tư, khách quan, không làm đúng quy trình khiến cho kết quả không đúng đắn;
        Ngoài ra, do tính chất không quy định công nhận kết quả của hòa giải mà trong một số trường hợp các bên hòa giải sẽ tự ý thay đổi hoặc không thực hiện các quy định trong văn bản hòa giải khiến cho việc hòa giải không có giá trị, không có tính ràng buộc.

Thực tiễn các quy định về thủ tục hòa giải trước khởi kiện

Thực trạng giải quyết hòa giải hiện nay

        Hòa giải trước khi khởi kiện và phương pháp giải quyết tranh chấp được nhà nước khuyến khích thực hiện để có thể giải quyết tranh chấp dựa trên sự thiện chí của các bên và giảm thiểu công việc có cơ quan tố tụng. Về thực trạng hiện nay các cơ quan có thẩm quyền đã chú trọng tăng cường hoạt động hòa giải trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự nói chung, các tranh chấp đất đai nói riêng và tỷ lệ hòa giải hiện nay cũng chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng số các vụ việc tranh chấp.
        Tuy nhiên, về chất lượng hòa giải hiện nay chưa đảm bảo về chủ thể tiến hành hòa giải cần là những người có đủ hiểu biết và kiến thức về lĩnh vực cần hòa giải và đảm bảo công tác điều tra, xác minh cần được thực hiện một cách minh bạch, chính xác để đảm bảo được kết quả hòa giải là đúng đắn.

Những bất cập, vướng mắc trong giải quyết hòa giải

        Thứ nhất, hiện nay pháp luật chưa có những quy định cụ thể để đối phố với trường hợp một trong các bên tranh chấp cố tình tránh né, không hợp tác trong hòa giải tiền tố tụng. Trên thực tế có không ít trường hợp các bên trong tranh chấp luôn né tránh, khi UBND cấp xã triệu tập thì cố tình không tham gia, dẫn đến tình trạng không hòa giải được, đồng thời còn tốn kém thời gian của các chủ thể tham gia trong quá trình hòa giải.
        Thứ hai, chưa có cơ chế công nhận sự thỏa thuận của các bên trong hòa giải, cũng như quy định điều chỉnh khi các bên tự ý không thực hiện theo đúng các thỏa thuận trong quá trình hòa giải dẫn đến các bên có quyền tự ý thay đổi quyết định nếu sau đó cảm thấy chưa thỏa mãn.
Thực tiễn về thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai

Một số kiến nghị về thủ tục hòa giải tiền tố tụng

        Để khắc phục những bất cập về mặt pháp luật và tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thì sau đây là một vài kiến nghị được đưa ra:
        Thứ nhất, cần bổ sung quy đinh công nhận kết quả hòa giải cũng như cần có chế tài đối với hành vi không thực hiện đúng thỏa thuận trong hòa giải để đảm bảo các bên thực thi kết quả hòa giải, tôn trọng kết quả hòa giải.
        Thứ hai, cần bổ sung các quy định và hướng giải quyết khi các bên cố tình tránh né không hợp tác để tiến hành hòa giải đảm bảo quyền tiếp cận công lý của công dân, Pháp luật cần quy định chế tài đối với hành vi tránh né không có yêu cầu tiến hành hòa giải để có thể giảm thiểu được sự tốn kém thời gian, chi phí khi tiến hành cuộc hòa giải. Đồng thời đảm bảo được quyền lợi của bên tranh chấp về vấn đề khởi kiện ra Tòa án trong trường hợp hòa giải bắt buộc trước khi khởi kiện.
        Về nguyên tắc, hòa giải là tiền đề để giải quyết các tranh chấp đất đai. Tuy nhiên đối với trường hợp khởi kiện thì cần xác định cụ thể loại tranh chấp cần thông qua thủ tục hòa giải tại cơ sở để hạn chế những rủi ro và bất cập về pháp lý. Nếu Quý khách hàng có khó khăn hoặc thắc mắc gì về vấn đề trên, hãy vui lòng liên hệ đến hotline 1900.63.63.87 hoặc email chuyentuvanluat@gmail.com để Thạc sĩ - Luật sư Phan Mạnh Thăng tư vấn kỹ hơn. Xin cảm ơn.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Xác định quan hệ trong tranh chấp đất đai

          Trong quá trình tham gia quan hệ pháp luật đất đai, việc bất đồng quan điểm, mâu thuẫn, xung đột ý kiến là điều khó tránh khỏi. Khi xảy ra mâu thuẫn về mặt lợi ích, xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật đất đai sẽ được gọi là tranh chấp đất đai. Quan hệ tranh chấp đất đai I. Những vấn đề lý luận liên quan đến tranh chấp đất đai 1. Khái niệm tranh chấp đất đai         Đất đai là loại tài sản đặc biệt, là tài nguyên của quốc gia được nhà nước giao cho người dân để sử dụng, quản lý. Đất đai không thuộc sở hữu của các bên tranh chấp mà thuộc sở hữu toàn dân. Điều này đã được quy định tại Điều 53 Hiến pháp 2013 và quy định cụ thể tại Điều 4 Luật Đất đai 2013: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”.         Trong quá trình tham gia quan hệ pháp luật đất đai không phải lúc nào các chủ thể cũng có

Lạm thu học phí đầu năm, cơ sở pháp lý nào để xử lý?

Lạm thu học phí đầu năm, cơ sở pháp lý nào để xử lý dành cho các bậc phụ huynh khi có dấu hiệu học phí đầu năm ngày càng tăng. Về các khoản học phí được phép thu đã được pháp luật quy định cụ thể. Trường hợp nhà trường thu học phí sai quy định pháp luật sẽ bị xử lý về hành vi lạm thu học phí. Việc này thường xảy ra do các bậc cha mẹ không nắm rõ quy định. Sau đây, Thạc sĩ - Luật sư Phan Mạnh Thăng xin cung cấp nội dung về vấn đề trên. Hành vi lạm thu học phí đầu năm Các khoản thu nào nhà trường không được phép thu?           Theo Thông tư số 55/2011/TT-BGDĐT thì các khoản phụ phí đầu năm sẽ được thu qua Ban đại diện cha mẹ học sinh theo nguyên tắc tự nguyện. Tuy nhiên, trên thực tế các khoản phí này thường được Ban đại diện cha mẹ học sinh nhờ nhà trường thu hộ và được thu như phí bắt buộc.           Căn cứ khoản 4 Điều 10 Thông tư số 55/2011/TT-BGDĐT quy định những khoản Ban đại diện cha mẹ học sinh không được phép quyên góp là: Các khoản ủng hộ không theo nguyên tắc tự nguyện Bảo vệ