Thứ Hai, 29 tháng 5, 2017

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU


            Căn cứ Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015), quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật. Đó cũng chính là nội dung quyền sở hữu.
1.      Quyền chiếm hữu
1.1.  Khái niệm
          
Theo Điều 179 BLDS 2015, chiếm hữu được hiểu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản. Do đó, người chiếm hữu có thể là chủ sở hữu, cũng có thể không phải là chủ sở hữu, ví dụ như người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý.
           Các hình thức chiếm hữu bao gồm:
            i. Chiếm hữu ngay tình
           Điều 180 BLDS 2015 quy định, chiếm hữu ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu. Ví dụ: chủ sở hữu chiếm hữu tài sản của chính mình, người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý có giấy ủy quyền hợp pháp của chủ sở hữu...
              ii. Chiếm hữu không ngay tình
           Điều 181 BLDS 2015 quy định, chiếm hữu không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu. Ví dụ: A nhìn thấy bò nhà bà B chạy sang nhà mình, biết rằng đó là bò của nhà B nhưng A vẫn không trả lại vì cho rằng bò tự chạy sang nhà mình.

               iii. Chiếm hữu liên tục
           Căn cứ Khoản 1 Điều 182 BLDS 2015, chiếm hữu liên tục là việc chiếm hữu được thực hiện trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp về quyền đối với tài sản đó hoặc có tranh chấp nhưng chưa được giải quyết bằng một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu.
               iv. Chiếm hữu công khai
           Theo Khoản 1 Điều 183 BLDS 2015, chiếm hữu công khai là việc chiếm hữu được thực hiện một cách minh bạch, không giấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình.
           Việc chiếm hữu liên tục hay công khai không là căn cứ để suy đoán rằng người chiếm hữu là ngay tình căn cứ theo Khoản 2 Điều 182 và Khoản 2 Điều 183 BLDS 2015.
           Về vấn đề suy đoán tình trạng và quyền của người chiếm hữu, theo quy định tại Điều 184 BLDS 2015, người chiếm hữu được suy đoán là ngay tình, ngay cả khi có tranh chấp đối với tài sản đó; người cho rằng người chiếm hữu không ngay tình thì phải chứng minh. Người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai được áp dụng thời hiệu hưởng quyền và được hưởng hoa lợi, lợi tức mà tài sản mang lại theo quy định của Bộ luật dân sự và luật khác có liên quan. Cụ thể, theo Điều 236 BLDS 2015, người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật dân sự, luật khác có liên quan quy định khác.
1.2.  Phân loại
           Có các quyền chiếm hữu sau:

i. Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu
Theo Điều 186 BLDS 2015, chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.

 ii. Quyền chiếm hữu của người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản
Theo Điều 187 BLDS 2015, người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó trong phạm vi, theo cách thức, thời hạn do chủ sở hữu xác định; và họ không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao theo trường hợp chiếm hữu ngay tình, công khai và liên tục.

iii. Quyền chiếm hữu của người được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự
Theo Điều 188 BLDS 2015, khi chủ sở hữu giao tài sản cho người khác thông qua giao dịch dân sự mà nội dung không bao gồm việc chuyển quyền sở hữu thì người được giao tài sản phải thực hiện việc chiếm hữu tài sản đó phù hợp với mục đích, nội dung của giao dịch; họ chỉ được chuyển quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đó cho người khác nếu được chủ sở hữu đồng ý. Người được giao tài sản cũng không thể trở thành chủ sở hữu đối với tài sản được giao theo trường hợp chiếm hữu ngay tình, liên tục và công khai.
2.      Quyền sử dụng
2.1.  Khái niệm
           Căn cứ Điều 189 BLDS 2015, quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Quyền sử dụng có thể được chuyển giao cho người khác theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
2.2.  Phân loại
           Có các quyền sử dụng sau:
i. Quyền sử dụng của chủ sở hữu
Căn cứ Điều 190 BLDS 2015, chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
 ii. Quyền sử dụng của người không phải là chủ sở hữu
Căn cứ theo Điều 191 BLDS 2015, người không phải là chủ sở hữu chỉ được sử dụng tài sản theo thỏa thuận với chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật.
3.      Quyền định đoạt
3.1.  Khái niệm
        Theo Điều 192 BLDS 2015, quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản. Thông thường, việc định đoạt tài sản được thực hiện thông qua những giao dịch dân sự. Do đó, theo Điều 193 BLDS 2015, điều kiện để thực hiện việc định đoạt tài sản là phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện không trái với quy định của pháp luật; trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì phải tuân theo trình tự, thủ tục đó, chẳng hạn như việc đầu giá tài sản...
3.2.  Phân loại
           Có các quyền định đoạt tài sản sau:
 i. Quyền định đoạt của chủ sở hữu
Theo Điều 194 BLDS 2015, chủ sở hữu có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng, tiêu hủy hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản.
 ii. Quyền định đoạt của người không phải là chủ sở hữu
Theo Điều 195 BLDS 2015, người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật.

     Ngoài ra, pháp luật còn quy định một số hạn chế quyền định đoạt. Theo Khoản 1 Điều 196 BLDS 2015, quyền định đoạt chỉ được hạn chế trong trường hợp do luật quy định. Chẳng hạn, theo quy định tại Khoản 4 Điều 44 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ. Khoản 2 Điều 196 BLDS 2015 còn quy định, khi tài sản đem bán là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì Nhà nước có quyền ưu tiên mua; trường hợp cá nhân, pháp nhân có quyền ưu tiên mua đối với tài sản nhất định theo quy định của pháp luật thì khi bán tài sản, chủ sở hữu phải dành quyền ưu tiên mua cho các chủ thể đó.

 Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét