Thứ Năm, 25 tháng 5, 2017

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC SỞ HỮU

Theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015 (BLDS 2015), có 03 hình thức sở hữu được quy định tại Mục 2 Chương XIII về Quyền sở hữu, bao gồm: Sở hữu toàn dân, sở hữu riêng và sở hữu chung.

1.      Sở hữu toàn dân
1.1.  Khái niệm
      Căn cứ Điều 197 BLDS 2015, những tài sản thuộc sở hữu toàn dân gồm: đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác do Nhà nước đầu tư, quản lý. Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Điều này thể hiện rõ trong quy định tại Điều 198 BLDS 2015 như sau:
"1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đại diện, thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân.
2. Chính phủ thống nhất quản lý và bảo đảm sử dụng đúng mục đích, hiệu quả và tiết kiệm tài sản thuộc sở hữu toàn dân."
      Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu toàn dân được thực hiện trong phạm vi và theo trình tự do pháp luật quy định (Điều 199 BLDS 2015).

1.2.  Thực hiện quyền sở hữu toàn dân
Các hình thức thực hiện quyền sở hữu toàn dân theo quy định BLDS bao gồm:
a)     Thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản được đầu tư vào doanh nghiệp
           Đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân được đầu tư vào doanh nghiệp thì căn cứ Khoản 1 Điều 200 BLDS 2015, Nhà nước thực hiện quyền của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan. Bên cạnh đó, theo Khoản 2 Điều 200 BLDS 2015, doanh nghiệp cũng phải thực hiện việc quản lý, sử dụng vốn, đất đai, tài nguyên và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư theo quy định của pháp luật có liên quan.
b)     Thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản được giao cho cơ uqan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân
           Đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân được giao cho cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân thì căn cứ Khoản 1 Điều 201 BLDS 2015, Nhà nước thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng tài sản đó. Bên cạnh đó, theo Khoản 2 Điều 201 BLDS 2015, cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân cũng phải thực hiện việc quản lý, sử dụng đúng mục đích, theo quy định của pháp luật đối với tài sản được Nhà nước giao.
c)     Thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản được giao cho tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp
           Đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân được giao cho tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp thì căn cứ Khoản 1 Điều 202 BLDS 2015, Nhà nước thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc quản lý, sử dụng tài sản đó. Bên cạnh đó, theo Khoản 2 Điều 202 BLDS 2015, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp cũng phải thực hiện việc quản lý, sử dụng tài sản được Nhà nước giao đúng mục đích, phạm vi, theo cách thức, trình tự do pháp luật quy định, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được quy định trong điều lệ.
d)     Sử dụng, khai thác tài sản thuộc sở hữu toàn dân của cá nhân, pháp nhân
           Theo quy định tại Điều 203 BLDS 2015, cá nhân, pháp nhân có quyền sử dụng đất, khai thác nguồn lợi thủy sản, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản thuộc sở hữu toàn dân theo đúng mục đích, có hiệu quả và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật. Ví dụ, nếu cá nhân, pháp nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp thì phải thực hiện đúng mục đích sử dụng đất nông nghiệp, đồng thời thực hiện các nghĩa vụ đối với việc sử dụng đất đó như nghĩa vụ nộp tiền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp...
e)     Tài sản thuộc sở hữu toàn dân chưa được giao cho cá nhân, pháp nhân quản lý
           Đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân chưa được giao cho cá nhân, pháp nhân quản lý thì theo quy định tại Điều 204 BLDS 2015, Chính phủ phải tổ chức thực hiện việc bảo vệ, điều tra, khảo sát và lập quy hoạch đưa vào khai thác.
2.      Sở hữu riêng
      Mỗi cá nhân, pháp nhân đều có thể có tài sản riêng của mình. Từ đó, thiết lập nên sở hữu riêng đối với tài sản đó. Theo Điều 205 BLDS 2015, tài sản thuộc sở hữu riêng phải là tài sản hợp pháp (như tài sản có được do phạm tội thì không được xem là tài sản hợp pháp) và không bị hạn chế về số lượng cũng như giá trị.
      Về việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng thì theo Điều 206 BLDS 2015, chủ sở hữu có toàn quyền quyết định đối với tài sản nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh và các mục đích khác không trái pháp luật. Đồng thời, việc thực hiện quyền sở hữu của mình phải không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Pháp luật cũng quy định một số trường hợp hạn chế quyền định đoạt của chủ sở hữu, ví dụ, theo quy định tại Khoản 4 Điều 44 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng là nguồn sống duy nhất của vợ chồng phải có sự đồng ý của cả vợ và chồng.
3.      Sở hữu chung
3.1.  Khái niệm
      Sở hữu chung trong phần này khác với sở hữu toàn dân. Nếu sở hữu toàn dân, chủ sở hữu là toàn dân, do Nhà nước đại diện quản lý thì sở hữu chung là sở hữu của một nhóm chủ thể. Sở hữu toàn dân là một dạng sở hữu chung. Căn cứ Điều 207 BLDS 2015, sở hữu chung là sở hữu của nhiều chủ thể (trừ toàn dân) đối với tài sản, bao gồm sở hữu chung theo phần và sở hữu chung hợp nhất
      Đối với sở hữu chung theo phần, theo Điều 209 BLDS 2015, là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung. Vì quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định nên quyền và nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ví dụ: A góp 500 triệu đồng và B góp một căn nhà được định giá 700 triệu đồng để cùng thành lập công ty TNHH. Do đó, khi phân chia lợi nhuận cũng như nghĩa vụ đối với các khoản nợ cũng được phân chia tương ứng theo số vốn mà A và B đã góp.
      Đối với sở hữu chung hợp nhất, theo Điều 210 BLDS 2015, là sở hữu chung mà phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu không được xác định đối với tài sản chung, do đó, quyền và nghĩa vụ của các chủ sở hữu cũng ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung đó. Ví dụ: tài sản chung của vợ chồng. Sở hữu chung hợp nhất bao gồm: sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia.
3.2.  Các hình thức sở hữu chung
           Theo quy định BLDS 2015, các hình thức sở hữu chung bao gồm:
a) Sở hữu chung của cộng đồng
           Theo Điều 211 BLDS 2015, "Sở hữu chung của cộng đồng là sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc, cộng đồng tôn giáo và cộng đồng dân cư khác đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng."; tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia và các thành viên của coojgn đồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo tập quán vì lợi ích chung của cộng đồng nhưng không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
b) Sở hữu chung của các thành viên gia đình
           Theo Khoản 1 Điều 212 BLDS 2015, tài sản của các thành viên gia đình cùng sống chung gồm tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên và những tài sản khác được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật dân sự và luật khác có liên quan.
           Căn cứ Khoản 2 Điều 212 BLDS 2015, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác. Trường hợp không có thỏa thuận thì áp dụng quy định về sở hữu chung theo phần, trừ trường hợp sở hữu chung của vợ chồng quy định tại Điều 213 BLDS 2015.
c) Sở hữu chung của vợ chồng
           Căn cứ Điều 213 BLDS 2015, một số vấn đề liên quan đến sở hữu chung của vợ chồng như sau:
- Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia;
- Là sở hữu chung hợp nhất nên vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
- Vợ chồng có thể thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung;
- Là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia nên vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án;
- Trường hợp lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được áp dụng theo chế độ tài sản này.
d) Sở hữu chung trong nhà chung cư
           Một số vấn đề pháp lý liên quan đến sở hữu chung trong nhà chung cư quy định tại Điều 214 BLDS 2015 như sau:
- Phần diện tích, trang thiết bị và các tài sản khác dùng chung trong nhà chung cư theo quy định của Luật nhà ở thuộc sở hữu chung hợp nhất của tất cả chủ sở hữu các căn hộ trong nhà đó và không phân chia, trừ trường hợp luật có quy định khác hoặc tất cả các chủ sở hữu có thỏa thuận khác.
- Chủ sở hữu các căn hộ trong nhà chung cư có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng tài sản, trừ trường hợp luật có quy định khác hoặc có thỏa thuận khác.
- Trường hợp nhà chung cư bị tiêu hủy thì quyền của chủ sở hữu căn hộ chung cư thực hiện theo quy định của luật.
e) Sở hữu chung hỗn hợp
           Theo Điều 215 BLDS 2015, sở hữu chung hỗn hợp là sở hữu đối với tài sản do các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế khác nhau góp vốn để sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận; tài sản được hình thành từ nguồn vốn góp của các chủ sở hữu, lợi nhuận hợp pháp thu được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc từ nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật là tài sản thuộc sở hữu chung hỗn hợp. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung hỗn hợp phải tuân theo quy định tại Điều 209 BLDS 2015 về sở hữu chung theo phần và quy định của pháp luật có liên quan đến việc góp vốn, tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý, điều hành, trách nhiệm về tài sản và phân chia lợi nhuận.
3.3.  Quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung
           Thứ nhất, về việc quản lý tài sản chung, theo quy định tại Điều 216 BLDS 2015, các chủ sở hữu chung cùng quản lý tài sản chung theo nguyên tắc nhất trí, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

           Thứ hai, về việc sử dụng tài sản chung;
           Căn cứ Điều 217 BLDS 2015, có các trường hợp sau:
           (i) Đối với sở hữu chung theo phần, mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
           (ii) Đối với sở hữu chung hợp nhất, các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền ngang nhau trong việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

           Thứ ba, về việc định đoạt tài sản chung;
           Căn cứ Điều 218 BLDS 2015, có các trường hợp sau:
           (i) Đối với sở hữu chung theo phần, mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình.
           Trường hợp một chủ sở hữu chung theo phần bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua.
           Trong thời hạn 03 tháng đối với tài sản chung là bất động sản, 01 tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác. Việc thông báo phải được thể hiện bằng văn bản và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung khác phải giống như điều kiện bán cho người không phải là chủ sở hữu chung. Trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.
           (ii) Đối với sở hữu chung hợp nhất, việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.
           Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định trường hợp chủ sở hữu từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc chết mà không có người thừa kế. Cụ thể:
           (i) Đối với tài sản là bất động sản thì phần quyền sở hữu đó thuộc về Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.
           (ii) Đối với tài sản là động sản thì phần quyền sở hữu đó thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu còn lại.
           (iii) Trường hợp tất cả các chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản chung thì việc xác lập quyền sở hữu được áp dụng theo quy định tại Điều 228 BLDS 2015 về xác lập quyền sở hữu đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu.
           Một vấn đề nữa liên quan đến định đoạt tài sản chung là chia tài sản thuộc sở hữu chung. Căn cứ Khoản 1 Điều 219 BLDS 2015, mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật (sở hữu chung hợp nhất không phân chia) thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác. Việc chia tài sản chung cũng có thể được thực hiện theo yêu cầu của người khác, trong trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
3.4.  Chấm dứt sở hữu chung
           Căn cứ Điều 220 BLDS 2015, sở hữu chung chấm dứt trong các trường hợp sau:
i. Tài sản chung đã được chia;
ii. Một trong số các chủ sở hữu chung được hưởng toàn bộ tài sản chung;
iii. Tài sản chung không còn;

iv. Trường hợp khác theo quy định của luật.

 Xem thêm các bài viết khác của chúng tôi tại: chuyentuvanphapluat.com.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét