Tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động là yếu tố quan trọng trong quá trình xác định mức suy giảm khả năng lao động và giải quyết quyền lợi cho người bị tai nạn. Để xác định chính xác tỷ lệ này, người lao động cần căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định y khoa và bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể được pháp luật quy định. Trên thực tế, không ít trường hợp nhầm lẫn giữa tỷ lệ tổn thương cơ thể, mức suy giảm khả năng lao động và số tiền trợ cấp được nhận. Vì vậy, việc nắm rõ nguyên tắc giám định, hồ sơ cần chuẩn bị và điều kiện hưởng chế độ sẽ giúp người lao động bảo vệ tốt hơn quyền lợi hợp pháp của mình.
Căn cứ xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể khi xảy ra tai nạn lao động
Tỷ lệ tổn thương cơ thể, hay còn được gọi phổ biến là tỷ lệ thương tật, là một trong những căn cứ được sử dụng để xác định mức suy giảm khả năng lao động của người bị tai nạn lao động. Kết quả này có vai trò quan trọng trong việc xác định người lao động có đáp ứng điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động hay không cũng như xác định hình thức trợ cấp tương ứng.
Việc xác định tỷ lệ không phải do người lao động tự tính toán hoặc chỉ dựa trên nhận định của bác sĩ trực tiếp điều trị. Kết luận chính thức phải được thực hiện thông qua Hội đồng giám định y khoa dựa trên phương pháp và bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể theo quy định pháp luật.
Theo Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH, tỷ lệ tổn thương cơ thể được xác định theo các nguyên tắc và bảng tỷ lệ tương ứng với từng dạng thương tích. Từ ngày 01/7/2025, hồ sơ và trình tự khám giám định được thực hiện theo Thông tư 25/2025/TT-BYT, thay thế Thông tư 56/2017/TT-BYT và Thông tư 18/2022/TT-BYT.
Theo quy định, người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên mới đáp ứng điều kiện về tỷ lệ để xem xét hưởng chế độ tai nạn lao động từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nếu đồng thời đáp ứng các điều kiện khác. Mức trợ cấp thực tế cũng không chỉ dựa vào tỷ lệ suy giảm mà còn liên quan đến thời gian đóng Quỹ và các căn cứ tiền lương theo từng trường hợp.
Người lao động có thể được hưởng chế độ khi suy giảm khả năng lao động từ 5%.
Nguyên tắc tính tỷ lệ tổn thương cơ thể
Điều 2 Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH quy định việc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định. Đây là cơ sở để Hội đồng giám định y khoa xem xét từng thương tích và đưa ra kết luận phù hợp.
Trường hợp một tổn thương đã được xác định thì chỉ được tính tỷ lệ phần trăm một lần, không được tính trùng cùng một tổn thương. Nếu người lao động chỉ có một tổn thương thì tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể được xác định theo giới hạn cao nhất của tỷ lệ tương ứng trong bảng tỷ lệ.
Đối với người có từ hai tổn thương trở lên, tỷ lệ của từng tổn thương phải được tổng hợp theo phương pháp quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH, thay vì cộng trực tiếp các tỷ lệ với nhau.
Ngoài ra, tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của một người không được vượt quá 100%. Sau khi tổng hợp, tỷ lệ được xác định bằng số nguyên; phần thập phân từ 0,5 trở lên được làm tròn thành 01 đơn vị.
Phương pháp tổng hợp khi có nhiều thương tích
Trường hợp người lao động cùng lúc chịu nhiều tổn thương thì cách tính tỷ lệ sẽ phức tạp hơn. Pháp luật không áp dụng cách cộng cơ học tỷ lệ của tất cả thương tích để xác định kết quả cuối cùng.
Theo Điều 3 Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH, tỷ lệ của tổn thương có mức cao nhất được xác định trước. Những tổn thương tiếp theo sẽ được tính dựa trên phần khả năng cơ thể còn lại sau khi đã xác định tổn thương trước đó.
Chẳng hạn, nếu một người có tổn thương thứ nhất được xác định ở mức 30% và tổn thương thứ hai ở mức 20%, không thể lấy 30% + 20% để kết luận tổng tỷ lệ là 50%. Tỷ lệ của tổn thương thứ hai phải được tính trên phần cơ thể còn lại theo công thức tổng hợp được quy định tại Điều 3.
Do đó, người lao động không nên tự cộng các tỷ lệ được ghi nhận trong bệnh án để dự đoán kết quả chính thức. Kết luận cuối cùng thuộc thẩm quyền của Hội đồng giám định y khoa và phải được thực hiện theo đúng bảng tỷ lệ, phương pháp tổng hợp được pháp luật quy định.
Bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể dùng để giám định
Việc xác định tỷ lệ tổn thương phải dựa vào bảng tỷ lệ được ban hành kèm theo Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH và được sửa đổi tại khoản 1 Điều 1 Thông tư liên tịch 21/2014/TTLT-BYT-BLĐTBXH.
Các bảng tỷ lệ được sử dụng để đánh giá nhiều dạng thương tích, bệnh, tật và bệnh nghề nghiệp. Vì vậy, việc lựa chọn đúng nhóm và mục tổn thương có ý nghĩa quan trọng đối với kết quả giám định.
Đối với tai nạn lao động gây thương tích, Hội đồng giám định y khoa phải xác định cụ thể loại thương tích, vị trí tổn thương, mức độ tổn thương và đối chiếu với mục tương ứng trong bảng tỷ lệ số 1. Nếu xác định không chính xác mục áp dụng, tỷ lệ tổn thương cuối cùng có thể bị ảnh hưởng.
Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi xảy ra tai nạn
Sau khi người lao động được giám định, tỷ lệ tổn thương cơ thể không chỉ được sử dụng để xác định chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà còn liên quan đến nghĩa vụ trực tiếp của người sử dụng lao động.
Các nghĩa vụ của doanh nghiệp và chế độ bảo hiểm là những vấn đề cần được phân biệt. Trách nhiệm của người sử dụng lao động có thể phát sinh ngay khi tai nạn xảy ra và không hoàn toàn phụ thuộc vào thời điểm có kết luận giám định.
Thanh toán chi phí điều trị và tiền lương
Khoản 1 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định người sử dụng lao động phải kịp thời sơ cứu, cấp cứu người lao động bị tai nạn và tạm ứng chi phí điều trị.
Theo khoản 2 Điều 38, tùy trường hợp, doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán phần đồng chi trả và các khoản chi phí không thuộc phạm vi thanh toán của bảo hiểm y tế đối với người lao động có tham gia bảo hiểm y tế.
Nếu doanh nghiệp giới thiệu người lao động đi giám định nhưng kết quả suy giảm khả năng lao động dưới 5%, doanh nghiệp phải thanh toán phí khám giám định. Trường hợp người lao động không tham gia bảo hiểm y tế, người sử dụng lao động phải thanh toán toàn bộ chi phí y tế theo quy định.
Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 yêu cầu doanh nghiệp trả đầy đủ tiền lương trong thời gian người lao động nghỉ việc để điều trị và phục hồi chức năng lao động.
Bồi thường khi tai nạn không hoàn toàn do lỗi của người lao động
Khoản 4 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định trường hợp tai nạn lao động không hoàn toàn do lỗi của người lao động thì người sử dụng lao động phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo mức tối thiểu tương ứng với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.
Người lao động suy giảm từ 5% đến 10% được bồi thường ít nhất 1,5 tháng tiền lương.
Đối với mức suy giảm từ 11% đến 80%, cứ tăng thêm 1% suy giảm thì mức bồi thường tối thiểu được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương.
Nếu người lao động suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc tử vong thì mức bồi thường tối thiểu là 30 tháng tiền lương.
Đối với tai nạn xảy ra ngoài nơi làm việc nhưng người lao động đang thực hiện nhiệm vụ hoặc tuân theo sự điều hành của người sử dụng lao động, trường hợp tai nạn do lỗi của người khác hoặc không xác định được người gây tai nạn thì khoản 1 Điều 39 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 vẫn yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo khoản 4 Điều 38.
Trợ cấp khi tai nạn xuất phát từ lỗi của người lao động
Ngay cả khi tai nạn xảy ra do lỗi của chính người lao động, người sử dụng lao động vẫn có thể phát sinh nghĩa vụ trợ cấp.
Căn cứ khoản 5 Điều 38 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, mức trợ cấp tối thiểu trong trường hợp này bằng 40% mức bồi thường được xác định theo khoản 4 Điều 38, tương ứng với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.
Tuy nhiên, khoản 1 Điều 40 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định một số trường hợp người lao động không được hưởng chế độ từ người sử dụng lao động. Các trường hợp này gồm mâu thuẫn của chính nạn nhân với người gây tai nạn nhưng không liên quan đến công việc; cố ý tự hủy hoại sức khỏe; hoặc sử dụng ma túy, chất gây nghiện khác trái quy định pháp luật.
Hồ sơ giám định và mức suy giảm khả năng lao động là căn cứ giải quyết chế độ.
Hồ sơ cần chuẩn bị để giám định tỷ lệ thương tật
Việc giám định phải được tiến hành theo đúng hồ sơ và trình tự do pháp luật quy định. Từ ngày 01/7/2025, hồ sơ và trình tự khám giám định tai nạn lao động được áp dụng thống nhất theo Thông tư 25/2025/TT-BYT.
Việc chuẩn bị đúng giấy tờ theo từng trường hợp giúp hạn chế tình trạng hồ sơ bị yêu cầu bổ sung hoặc kéo dài thời gian giải quyết quyền lợi.
Thành phần hồ sơ giám định lần đầu
Theo khoản 1 Điều 16 Thông tư 25/2025/TT-BYT, hồ sơ khám giám định lần đầu do tai nạn lao động bao gồm:
Giấy giới thiệu giám định y khoa theo Mẫu số 12 Phụ lục II nếu người lao động vẫn thuộc quyền quản lý của người sử dụng lao động;
Giấy đề nghị giám định y khoa theo Mẫu số 13 Phụ lục II nếu người lao động không còn thuộc quyền quản lý hoặc thuộc trường hợp luật định;
Bản sao hợp lệ giấy ra viện, bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy chứng nhận thương tích;
Bản sao hợp lệ Biên bản điều tra tai nạn lao động trong trường hợp cá nhân tự đề nghị khám giám định;
Những giấy tờ khác liên quan đến chẩn đoán, điều trị nếu có.
Người lao động nên rà soát toàn bộ tài liệu y tế trước khi nộp hồ sơ để bảo đảm các thương tích liên quan đến tai nạn được thể hiện đầy đủ trong tài liệu làm căn cứ giám định.
Ai có trách nhiệm lập hồ sơ?
Điều 21 Thông tư 25/2025/TT-BYT quy định trách nhiệm lập hồ sơ dựa trên từng tình huống cụ thể.
Theo khoản 1 Điều 21, người lao động tự lập và gửi hồ sơ trong những trường hợp như giám định tái phát, không còn thuộc quyền quản lý của người sử dụng lao động và một số trường hợp khác theo quy định.
Đối với các trường hợp không thuộc khoản 1, khoản 2, khoản 4 và khoản 5 Điều 21, khoản 3 quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm lập, hoàn chỉnh và gửi hồ sơ giám định.
Trình tự khám và kết luận giám định
Theo khoản 1 Điều 22 Thông tư 25/2025/TT-BYT, việc giải quyết hồ sơ và trình tự khám giám định được thực hiện theo Thông tư 01/2023/TT-BYT về hoạt động của Hội đồng giám định y khoa các cấp.
Đối với giám định lần đầu, nội dung khám dựa trên những tổn thương liên quan đến tai nạn được ghi nhận trong giấy ra viện, bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy chứng nhận thương tích.
Nếu thực hiện giám định tái phát, Hội đồng xem xét những tổn thương đã được ghi nhận và những tổn thương nặng hơn thể hiện trong hồ sơ điều trị. Trường hợp người lao động trải qua nhiều lần tai nạn lao động thì thực hiện giám định tổng hợp theo quy định.
Giám định lại và giám định phúc quyết khi có căn cứ
Không phải mọi trường hợp không đồng ý với kết quả giám định đều được thực hiện lại việc giám định theo cách giống nhau. Pháp luật hiện hành phân biệt giám định lại do thương tật tái phát, giám định tổng hợp và giám định phúc quyết.
Giám định lại khi thương tật tái phát
Điều 17 Thông tư 25/2025/TT-BYT quy định người lao động có thể được giám định lại khi thương tật do tai nạn lao động tái phát, đã được điều trị và có tài liệu y tế chứng minh tình trạng tổn thương nặng hơn so với kết quả giám định gần nhất.
Hồ sơ gồm giấy giới thiệu hoặc giấy đề nghị giám định, bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy ra viện thể hiện tổn thương nặng hơn và bản sao hợp lệ Biên bản giám định y khoa gần nhất.
Thời điểm thực hiện giám định lại
Khoản 3 Điều 47 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định trường hợp thương tật hoặc bệnh tật tái phát tại điểm b khoản 1 Điều 47 thì người lao động được giám định lại sau 24 tháng kể từ ngày Hội đồng giám định y khoa kết luận tỷ lệ suy giảm khả năng lao động của lần liền kề trước.
Đối với bệnh nghề nghiệp có tính chất khiến sức khỏe suy giảm nhanh, pháp luật cho phép có thể thực hiện giám định sớm hơn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Ngoài ra, nếu thương tật hoặc bệnh nghề nghiệp không có khả năng điều trị ổn định theo điểm c khoản 1 Điều 47, người lao động có thể thực hiện giám định trước hoặc ngay trong thời gian điều trị. Trường hợp này cần được phân biệt với thủ tục giám định lại do thương tật tái phát.
Giám định phúc quyết khi không đồng ý kết quả
Theo Điều 19 Thông tư 25/2025/TT-BYT, hồ sơ giám định phúc quyết được áp dụng trong trường hợp vượt khả năng chuyên môn hoặc theo đề nghị của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
Nếu tiếp tục đề nghị phúc quyết lần cuối thì hồ sơ được thực hiện theo Điều 20 Thông tư 25/2025/TT-BYT, trong đó có văn bản hoặc giấy đề nghị phúc quyết lần cuối, Biên bản giám định phúc quyết và quyết định thành lập Hội đồng giám định y khoa phúc quyết lần cuối của Bộ trưởng Bộ Y tế.
Do đó, việc không đồng ý với kết quả giám định không đồng nghĩa với việc mặc nhiên được tổ chức giám định lại. Người lao động cần xác định đúng căn cứ, hồ sơ và trình tự được quy định tại Điều 19 và Điều 20 Thông tư 25/2025/TT-BYT.
Tỷ lệ suy giảm bao nhiêu thì được hưởng trợ cấp?
Theo khoản 2 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động phải bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do tai nạn thuộc khoản 1 Điều 45 và không thuộc trường hợp loại trừ tại khoản 3 Điều 45 mới đáp ứng điều kiện về tỷ lệ để hưởng chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Suy giảm từ 5% đến 30%
Khoản 2 Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định người suy giảm 5% khả năng lao động được hưởng 05 lần mức tham chiếu. Cứ tăng thêm 1% suy giảm thì được cộng thêm 0,5 lần mức tham chiếu.
Ngoài khoản tính theo tỷ lệ suy giảm, người lao động còn được hưởng phần trợ cấp dựa trên thời gian đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Nếu đóng Quỹ từ 01 năm trở xuống thì được tính bằng 0,5 tháng tiền lương đóng Quỹ; sau đó, cứ thêm mỗi năm đóng thì được cộng thêm 0,3 tháng tiền lương đóng Quỹ của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.
Suy giảm từ 31% trở lên
Theo điểm a khoản 2 Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động suy giảm 31% được hưởng trợ cấp hằng tháng bằng 30% mức lương cơ sở. Cứ tăng thêm 1% suy giảm khả năng lao động thì khoản trợ cấp được cộng thêm 2% mức lương cơ sở.
Theo điểm b khoản 2 Điều 49, khoản trợ cấp hằng tháng còn có phần được tính theo thời gian đóng Quỹ. Với thời gian đóng từ 01 năm trở xuống, mức tính là 0,5% tiền lương đóng Quỹ; sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì cộng thêm 0,3%.
Mức lương cơ sở áp dụng từ ngày 01/7/2026
Điều 48 và Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 hiện vẫn sử dụng thuật ngữ “mức lương cơ sở” để xác định mức trợ cấp một lần và trợ cấp hằng tháng. Mặc dù Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định khái niệm “mức tham chiếu” tại Điều 7, Điều 139 của Luật này không sửa điểm a khoản 2 Điều 48 và điểm a khoản 2 Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động sang thuật ngữ “mức tham chiếu”.
Từ ngày 01/7/2026, Nghị định 161/2026/NĐ-CP đã điều chỉnh mức lương cơ sở từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng. Theo nội dung nguồn, cơ quan BHXH cũng xác nhận việc điều chỉnh mức này có tác động đến các mức đóng và mức hưởng BHXH, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong trường hợp pháp luật sử dụng lương cơ sở hoặc mức tham chiếu làm căn cứ.
Như vậy, người lao động suy giảm từ 5% đến 30% thuộc trường hợp hưởng trợ cấp một lần; từ 31% trở lên thuộc trường hợp hưởng trợ cấp hằng tháng. Tuy nhiên, số tiền thực tế cần được xác định trên cơ sở tổng hợp tỷ lệ suy giảm, thời gian đóng Quỹ và tiền lương làm căn cứ theo quy định tương ứng.
Tai nạn trên đường đi làm có được hưởng chế độ không?
Theo điểm c khoản 1 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, tai nạn xảy ra trên tuyến đường từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở, trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý, được xem là một trong những trường hợp tai nạn lao động theo quy định.
Tuy nhiên, để được hưởng chế độ, người lao động vẫn phải đáp ứng điều kiện suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên cùng những điều kiện liên quan khác.
Nếu tai nạn trên đường đi làm do lỗi của người khác hoặc không xác định được người gây tai nạn, khoản 2 Điều 39 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 vẫn quy định trách nhiệm trợ cấp của người sử dụng lao động theo mức tương ứng tại khoản 5 Điều 38.
Các rủi ro thường gặp khi xác định tỷ lệ thương tật
Việc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể có thể gặp trở ngại nếu hồ sơ được lập không đầy đủ, sử dụng sai căn cứ hoặc hiểu chưa chính xác về cách tính. Những sai sót này có khả năng ảnh hưởng đến quá trình giám định và giải quyết chế độ.
Sử dụng văn bản không còn hiệu lực
Hiện nay, hồ sơ và trình tự khám giám định được thực hiện theo Thông tư 25/2025/TT-BYT, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Thông tư 56/2017/TT-BYT và Thông tư 18/2022/TT-BYT đã hết hiệu lực kể từ thời điểm này.
Vì vậy, người lao động và doanh nghiệp cần kiểm tra kỹ căn cứ pháp lý, biểu mẫu và thành phần hồ sơ trước khi tiến hành giám định, tránh sử dụng các quy định cũ không còn phù hợp.
Hiểu sai giữa tỷ lệ suy giảm và mức trợ cấp
Tỷ lệ suy giảm khả năng lao động không phải là căn cứ duy nhất để xác định số tiền người lao động được nhận. Theo điểm b khoản 2 Điều 48 và điểm b khoản 2 Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, thời gian đóng Quỹ và tiền lương làm căn cứ đóng cũng được sử dụng để tính mức trợ cấp.
Do đó, những người có cùng một tỷ lệ suy giảm khả năng lao động vẫn có thể nhận mức tiền khác nhau nếu các yếu tố về thời gian đóng Quỹ hoặc tiền lương làm căn cứ không giống nhau.
Bỏ sót tổn thương cần giám định
Khoản 2 Điều 22 Thông tư 25/2025/TT-BYT quy định nội dung giám định lần đầu dựa trên các tổn thương liên quan đến tai nạn được ghi nhận trong giấy ra viện, bản tóm tắt hồ sơ bệnh án hoặc giấy chứng nhận thương tích.
Tuy nhiên, nếu trong quá trình khám phát hiện thêm tổn thương khác thì khoản 4 Điều 22 cho phép tổn thương đó được ghi nhận trong kết quả khám hiện tại. Vì vậy, không nên hiểu rằng Hội đồng giám định chỉ được xem xét những tổn thương đã xuất hiện trong hồ sơ ban đầu.
Chậm thực hiện hồ sơ giám định và hồ sơ hưởng chế độ
Hồ sơ giám định y khoa và hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là hai thủ tục riêng biệt. Điều 21 Thông tư 25/2025/TT-BYT quy định về chủ thể có trách nhiệm lập hồ sơ giám định.
Sau khi đủ điều kiện hưởng chế độ, Điều 57 và Điều 59 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 quy định về hồ sơ và thời hạn giải quyết. Theo khoản 1 Điều 59, người sử dụng lao động phải nộp hồ sơ cho cơ quan bảo hiểm xã hội trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ; cơ quan bảo hiểm xã hội giải quyết trong 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.
Dịch vụ luật sư hỗ trợ xác định tỷ lệ thương tật tại Chuyên tư vấn Luật
Việc xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể liên quan trực tiếp đến hồ sơ y tế, kết luận giám định, điều kiện hưởng chế độ và trách nhiệm của người sử dụng lao động. Trong những trường hợp hồ sơ có nhiều thương tích hoặc phát sinh bất đồng về kết quả giám định, việc rà soát các tài liệu và căn cứ pháp lý có thể giúp các bên xác định đúng hướng xử lý.
Chuyên tư vấn Luật hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp với các nội dung:
Rà soát hồ sơ tai nạn lao động và biên bản điều tra tai nạn;
Kiểm tra điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động;
Xem xét hồ sơ bệnh án, giấy chứng nhận thương tích và các tài liệu y tế liên quan;
Hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ giám định lần đầu theo Thông tư 25/2025/TT-BYT;
Hỗ trợ thủ tục giám định lại khi thương tật tái phát;
Hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ giám định phúc quyết theo quy định;
Kiểm tra sự phù hợp giữa kết quả giám định và tài liệu y tế;
Tính toán mức trợ cấp một lần hoặc trợ cấp hằng tháng dựa trên tỷ lệ suy giảm và thời gian đóng Quỹ;
Xác định khoản bồi thường, trợ cấp mà doanh nghiệp có trách nhiệm thực hiện theo Điều 38, Điều 39 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015;
Rà soát hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ bảo hiểm tai nạn lao động;
Hỗ trợ khiếu nại và bảo vệ quyền lợi trong trường hợp việc giải quyết chế độ chưa phù hợp với quy định.
Quý khách có nhu cầu đánh giá sơ bộ vụ việc có thể gửi hồ sơ qua email pmt@luatlongphan.vn hoặc Zalo 0939846973 để được hỗ trợ.
Một số câu hỏi thường gặp về tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động
Bị tai nạn lao động bao nhiêu phần trăm thì được hưởng chế độ?
Người lao động phải bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do tai nạn lao động thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 và không thuộc trường hợp loại trừ tại khoản 3 Điều 45 mới đủ điều kiện hưởng chế độ từ Quỹ.
Suy giảm từ 5% đến 30% được hưởng gì?
Theo Điều 48 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động thuộc mức suy giảm từ 5% đến 30% được hưởng trợ cấp một lần. Khoản tiền được tính dựa trên tỷ lệ suy giảm và phần bổ sung căn cứ vào thời gian đã đóng Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Suy giảm từ 31% trở lên được hưởng gì?
Theo Điều 49 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015, người lao động suy giảm từ 31% trở lên thuộc trường hợp hưởng trợ cấp hằng tháng. Mức trợ cấp được xác định dựa trên tỷ lệ suy giảm và thời gian đóng Quỹ theo quy định.
Không đồng ý với kết quả giám định thì xử lý thế nào?
Nếu thuộc trường hợp được pháp luật cho phép, người lao động có thể đề nghị giám định phúc quyết theo Điều 19 Thông tư 25/2025/TT-BYT. Trường hợp vẫn không đồng ý với kết quả phúc quyết, có thể tiếp tục thực hiện thủ tục phúc quyết lần cuối theo Điều 20 của Thông tư này.
Có nhiều thương tích thì có được cộng thẳng các tỷ lệ không?
Không. Trường hợp có nhiều tổn thương, tỷ lệ phải được tổng hợp theo phương pháp quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch 28/2013/TTLT-BYT-BLĐTBXH, thay vì cộng trực tiếp tỷ lệ của từng thương tích.
Tai nạn trên đường đi làm có được hưởng chế độ không?
Có thể được hưởng nếu tai nạn xảy ra trên tuyến đường và trong khoảng thời gian hợp lý từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc ngược lại, thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015. Người lao động vẫn phải đáp ứng điều kiện suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên để được hưởng trợ cấp.
Xác định đúng tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động là cơ sở quan trọng để giải quyết chế độ bảo hiểm, trợ cấp và trách nhiệm bồi thường của người sử dụng lao động. Người lao động cần thực hiện đúng phương pháp xác định tỷ lệ, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, sử dụng đúng căn cứ pháp lý hiện hành và lưu ý thời điểm thực hiện giám định lại hoặc phúc quyết. Đồng thời, số tiền được hưởng không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ suy giảm khả năng lao động mà còn có thể phụ thuộc vào thời gian đóng Quỹ và tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp.
Chuyên tư vấn Luật cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn chuyên nghiệp, nhanh chóng và hiệu quả, giúp Quý khách hàng giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan một cách thuận lợi và đúng quy định. Liên hệ ngay hotline 1900636387 để được tư vấn miễn phí.
Nguồn: Toàn tập hướng dẫn cách xác định tỷ lệ thương tật do tai nạn lao động
>> Xem thêm:
- Thủ tục giám định tai nạn lao động – Hướng dẫn thực hiện
- Điều chỉnh giá hợp đồng xây dựng trọn gói theo luật hiện hành



Nhận xét
Đăng nhận xét